Cũ 04-05-2011, 07:07 AM   #1 (permalink)
Administrator
Xem bộ sưu tập
 
Tham gia ngày: Jun 2009
Bài gửi: 193
Thanks: 1
Thanked 32 Times in 26 Posts
Mặc định Gốm cổ Việt Nam Truyền thống và lịch sử

Lịch sử đồ gốm Việt Nam đă bắt đầu từ những món đồ bằng đất sét trộn bột vỏ ṣ không tráng men, dùng khuôn bằng giỏ đan, màu nâu đậm hay nâu nhạt …qua những vật tích t́m được ở Hoà B́nh, ở Bắc Sơn, ở Quảng Yên, ở Thanh Hoá. Trong phạm vi đồ gốm – nét văn minh sơ khởi nhất của con người, bởi v́ không có đồ gốm để nấu nướng, cất giữ, ăn uống th́ nền văn minh không h́nh thành – ông cha ta tiếp tục phát huy, học hỏi và ứng dụng kinh nghiệm vào việc chế tạo đồ gốm, tạo nên các nền văn hoá Phùng Nguyên, văn hoá Đông Sơn . Dù di tích c̣n rất ít, nhưng đồ gốm Việt Nam trong thời này đă cho thấy sắc thái của một nền văn hóa cá biệt. Trong những thế kỷ sau đó, đồ gốm Việt Nam đạt được mức phát triển rất cao, đă xuất cảng sang Ả Rập, Nam Dương…



Thạp, hũ, liễn trang trí hoa và chim. Gốm hoa nâu, triều Trần thế kỷ 13,14. Ảnh VIT
Sang thế kỷ thứ 10, đồ gốm mang một sắc thái khác với nước men trong, dày, khá đều, với hoa văn chim hạc, cọp, voi, hoa sen, hoa cúc… đă xuất hiện nhiều. Người thợ Việt Nam đă biết cách làm các đường rạn thưa hay dày theo ư muốn. Rồi từ đời Lư (đầu thế kỷ 11) đồ gốm Việt Nam phát triển một cách huy hoàng. Nhiều loại men (các loại Lư Nâu, Lư Đen, Lư Trắng, Lư Lục, men ngọc), nhiều hoa văn, nhiều thể loại tràn lan khắp nơi, từ chốn triều đ́nh, chùa, miếu đến thôn dă trong suốt từ thế kỷ 11 đến hết thế kỷ 16 (đời Hậu Lê). H́nh dáng gốm Việt Nam gồm có dĩa, đĩa, tô, chén, lọ, chai và b́nh. Cả những kiểu đặc biệt tạo ra bởi nghệ nhân đời Minh như hũ và chén có bệ của thời kỳ 1403-1424 cũng có tương đương trong các loại đồ gốm Việt Nam. Đồ gốm đất Việt Nam được cấu tạo dày và chắc hơn đồ gốm đất Trung Hoa. Thân h́nh cấu tạo bên ngoài màu nâu và ít có bị lẫn chất bụi hoặc sạn. Dưới chân đồ gốm đất hoặc là để nguyên hoặc được tráng một lớp trơn không màu hoặc một lớp tráng oxide sắt màu nâu.
Có đủ loại các lớp trán trên đồ gốm Việt Nam. Loại đồ gốm tráng một màu là những loại thông dụng được xuất khẩu trong thời kỳ đầu. Trắng, xanh cây, đen và nâu là những loại thông dụng và được biết nhiều. Sự tiến triển của kỷ thuật đồ gốm trong giai đoạn đầu là sự tŕnh bày bằng lớp oxide sắt đen và nâu dưới lớp tráng. Sắc thái tŕnh bày rất thanh thoát và giản dị so với lối tŕnh bày trên đồ gốm Trung Hoa. Sự chuyển tiếp từ lối tŕnh bày bằng oxide sắt đến cách dùng cobalt xanh trời là một sự cải tiến quan trọng trong nghệ thuật đồ gốm Việt Nam và chứng kiến một mức độ sản xuất về xuất khẩu chưa từng có trong lịch sử đồ gốm Việt.


Thạp trang trí hoa sen, sóng nước. Gốm hoa nâu, triều Trần - Lê Sơ, thế kỷ 14,15. Ảnh VIT
Những kiểu tŕnh bày Việt Nam có đặc tính thanh thoát, sáng tạo độc lập khác hẳn với sự xếp đặt phong cảnh, sinh thú của lối tŕnh bày Trung Hoa. Chim, cá, ngựa và nai là những sinh thú thường được tŕnh bày cũng như các con vật huyền thoại như lân và phượng. Rồng tuy vậy lại rất hiếm trong các lối tŕnh bày. Con cá trong đồ gốm Việt Nam, không giống cá kiểng đỏ của đồ gốm Trung Hoa, mà là con cá bông của sông ng̣i Việt Nam. Đến giữa thế kỷ 15, đồ gốm xanh trời và trắng chiếm vị trí hàng đầu trong những hàng xuất khẩu. Cũng trong khoảng thời gian nay, một loại đồ gốm mới xuất hiện với cách dùng men trắng, chủ yếu màu đỏ và xanh trời, và thường phối hợp với lớp tŕnh bày xanh trời ở lớp dưới.
Nói đến tuyệt đỉnh của Gốm cổ Việt Nam ta không thể không nhắc đến tên “ Gốm Chu Đậu”. Đồ gốm Chu Đậu ch́m sâu trong ḷng đất, dưới đáy biển suốt mấy trăm năm. Những món c̣n được lưu giữ ở các viện bảo tàng bên Châu Âu th́ đă từng bị xếp lộn vào đồ gốm Trung Hoa.
Đồ gốm Chu Đậu được phát hiện nhiều trong các ngôi mộ cổ, đ́nh chùa, từ đường và nhiều nhất là dưới các tầu buôn ch́m ngoài khơi Hội An, Đà Nẵng... Đồ gốm Chu Đậu h́nh dáng thanh tao, nước men trong mà mỏng, hoa văn đầy h́nh ảnh đời sống thôn làng Việt Nam. Đồ gốm Chu Đậu bắt đầu được sản xuất từ cuối thế kỷ 14, rực rỡ nhất vào thế kỷ 15, 16 rồi tàn lụi vào đầu thế kỷ 17, trong khi các ḷ gốm khác ở Hải Dương c̣n sản xuất những món đồ không men (nồi đất, chum, vạị..) cho đến thế kỷ 18, hay cho măi đến bâygiờ như làng Cậy, làng Lâm Xuyên (chuyên làm nồi đất không men).




Thống trang trí hoa sen, cúc dây. Gốm hoa nâu, triều Trần, thế kỷ 13 - 14. Ảnh VIT
__________________
Người sưu tầm đồ cổ yêu vợ nhiều hơn lúc về già
View admin's Photo Album admin đang ẩn   Trả lời với trích dẫn
Cũ 04-05-2011, 07:09 AM   #2 (permalink)
Administrator
Xem bộ sưu tập
 
Tham gia ngày: Jun 2009
Bài gửi: 193
Thanks: 1
Thanked 32 Times in 26 Posts
Mặc định Xác định tuổi gốm bằng phương pháp nhiệt huỳnh quang

Mới đây, Viện Khảo cổ học đă đưa vào ứng dụng Quy tŕnh công nghệ xác định tuổi mẫu gốm cổ Việt Nam bằng phương pháp nhiệt huỳnh quang cho kết quả nhanh và tương đối chính xác.

Đây là phương pháp hiện đại, được nhiều nước trên thế giới sử dụng để góp phần xác định chính xác những thông tin về tŕnh độ sản xuất, văn hóa và xă hội của người xưa trên các sản phẩm đồ gốm, đặc biệt là xác định tuổi của mẫu gốm.

Theo các chuyên gia, áp dụng kỹ thuật xác định tuổi mẫu gốm cổ bằng phương pháp nhiệt huỳnh quang với các hạt thạch anh bao thể là giải pháp phù hợp với nhu cầu thực tế. Phương pháp này đo tuổi gốm khá khách quan, tin cậy, có khả năng cho sai số tương đối cho phép đạt nhỏ hơn 10%, hữu ích cho những người làm công tác khảo cổ.

Qua thử nghiệm đo tuổi mẫu gốm cổ ở một số di tích như Thành Dền, Xóm Rền, G̣ Tháp... đă cho kết quả tương đương với niên đại chung của di tích. Các nhà khoa học cũng gửi một số mẫu tới pḥng thí nghiệm hiện đại của nước ngoài để so sánh và bước đầu cho thấy kết quả phù hợp.

Ở Việt Nam từ trước tới nay chủ yếu dựa vào cách so sánh để đánh giá niên đại tương đối cho các mẫu gốm.


Theo TTXVN
__________________
Người sưu tầm đồ cổ yêu vợ nhiều hơn lúc về già
View admin's Photo Album admin đang ẩn   Trả lời với trích dẫn
Cũ 04-05-2011, 07:17 AM   #3 (permalink)
Administrator
Xem bộ sưu tập
 
Tham gia ngày: Jun 2009
Bài gửi: 193
Thanks: 1
Thanked 32 Times in 26 Posts
Mặc định Đến làng Chăm học cách làm gốm cổ

Phước, tỉnh Ninh Thuận c̣n lưu truyền được nghề làm gốm bằng tay. Đây là một làng gốm được đánh giá là cổ nhất khu vực Đông Nam Á. Ngoài các sản phẩm truyền thống như lu, ấm nước, chậu hoa… các nghệ nhân Chăm c̣n tạo ra nhiều loại gốm mỹ nghệ trang trí độc đáo.

Làng gốm Bàu Trúc nằm trong ḷng chảo được bao quanh bởi những dăy núi, mùa mưa thường gây ra lũ lụt và được phù sa bồi đắp lâu năm tạo nên các lớp đất nằm sâu ở triền sông Quao. Chính nơi đây đă h́nh thành nên những lớp đất sét mịn màng, có độ dẻo cao. Bên dưới ḷng sông Quao có những băi cát trắng hạt rất nhỏ. Đây là nguyên liệu cần thiết để tạo thành gốm Bàu Trúc. Mỏ đất sét ở rất gần triền sông Quao, mùa mưa nước rất lớn, nên khai thác đất sét chỉ tập trung vào những tháng mùa khô. Đất được làm sạch, đập nhuyễn, ngâm nước, sau đó nhồi với cát trắng hạt nhỏ theo tỷ lệ hai đất sét một cát. Khâu làm đất được chuẩn bị rất kỹ lưỡng, nếu c̣n sót một vài hạt cát thô hoặc ít bụi bẩn th́ sản phẩm sau khi nung sẽ bị nứt, hư hỏng hoàn toàn.
Nghệ nhân xoay người quanh vật dụng để tạo nên h́nh thể gốm cần làm

Đất sét được tách ra từng viên lớn, nhỏ (tuỳ theo kích cỡ thân gốm) đặt lên bàn kê cao chừng 1 mét, nghệ nhân xoay người quanh vật dụng để tạo nên h́nh thể gốm cần làm. Khi đă có h́nh dạng cơ bản, họ lấy vải thấm nước để chỉnh sửa, đánh bóng sản phẩm. Sau đó, các nghệ nhân tập trung vào khâu trang trí hoa văn. Hoa văn trang trí cũng rất đơn giản, tùy theo h́nh mẫu sản phẩm. Có nhiều sản phẩm gốm, nghệ nhân chỉ cần dùng đầu móng tay ấn vài nét để tạo hoa văn trên vai cổ gốm cũng có giá trị nghệ thuật cao. Các hoa văn thường được trang trí trên thân gốm là những đường khắc vạch h́nh sóng biển, chấm vỏ ṣ, bông hoa thực vật và cả hoa văn móng tay rất mộc mạc, gần gũi, nhẹ nhàng.
Dù h́nh thù gốm có cao, to nhưng với đôi tay khéo léo của ḿnh, các nghệ nhân đă tạo ra được các sản phẩm gốm độc đáo

Trước khi đưa vào nung, gốm được phơi thật khô dưới ánh nắng mặt trời. Khi đốt lửa nung gốm, các nghệ nhân luôn theo dơi rất kỹ các bản tin dự báo thời tiết để tránh những trận mưa bất chợt. Nếu nung nửa chừng mà gặp cơn mưa th́ coi như mẻ gốm đó thất bại. Gốm Bàu Trúc không nung bằng ḷ, mà thay vào đó, người ta chất thành từng đống trước sân nhà, ủ rơm rạ nung thủ công theo phương thức: Nung lần thứ nhất trong ṿng 6 tiếng, để cho gốm chín, sau đó dùng nước màu phun lên bề mặt thân gốm; lần hai nung trong ṿng 2 tiếng và cho ra sản phẩm gốm hoàn chỉnh. Kết hợp cách pha màu, các nghệ nhân có cách ém khói khi nung để tạo ra các vết màu loang đặc sắc trên từng sản phẩm gốm như: vàng đỏ, đỏ hồng, đen xám, vệt nâu rất cổ kính.
Gốm đem phơi khô trước khi đưa vào nung

Nước màu cũng là khâu quyết định giá trị sản phẩm gốm Bàu Trúc. Nghệ nhân lên rừng hái trái dông, trái thị, vỏ cây… đem về giă nhuyễn, ép lấy nước màu. Sản phẩm gốm có giá trị nghệ thuật cao cũng nhờ vào bí quyết pha màu và cách ém khói khi nung. Bí quyết này tạo nên vẻ đẹp huyền bí của gốm cổ Bàu Trúc mà không nơi nào có được.
Du khách đến tham quan và mua các sản phẩm ở làng gốm Bàu Trúc

Bài, ảnh: Thiện Nhân
__________________
Người sưu tầm đồ cổ yêu vợ nhiều hơn lúc về già
View admin's Photo Album admin đang ẩn   Trả lời với trích dẫn
Cũ 04-05-2011, 07:20 AM   #4 (permalink)
Administrator
Xem bộ sưu tập
 
Tham gia ngày: Jun 2009
Bài gửi: 193
Thanks: 1
Thanked 32 Times in 26 Posts
Mặc định Gốm cổ Việt Nam và những giá trị nghệ thuật

Gốm ra đời trước khi xă hội có giai cấp; gốm bắt nguồn từ nghệ thuật dân gian: t́nh cảm con người, t́nh cảm nghệ sĩ trực tiếp chuyển vào bản thân của gốm trước tiên qua lao động “nhào nặn”, làm cho bản thân của gốm rung cảm, nói lên tiếng nói của nghệ sĩ, của cuộc sống xă hội. Điều đơn giản này không phải dễ phát hiện ngay. Châu Âu vốn tự hào với nền công nghiệp gốm phát triển, khi đồ sứ Trung Quốc và Nhật Bản tràn sang, mới thấy “cần phải học tập không chỉ về kỹ thuật, mà cả về khái niệm đúng đối với h́nh dáng và lối trang trí tùy thuộc chất liệu này”.

Ở Nhật Bản, K. Phu-ki-ni, nhà nghiên cứu gốm lâu năm có một nhận xét đáng lưu ư: “Từ buổi b́nh minh của muôn vật, đời sống con người không bao giờ tồn tại mà không tự biểu hiện trong một loạt nào đó của tác phẩm đồ gốm”.

Gốm Việt Nam nổi bật những đặc tính truyền thống đó. Gốm Việt Nam không phân biệt giữa gốm “ḷ quan” và gốm “ḷ dân” như ở một số nước thời phong kiến, mặc dù có một số gốm làm ra phần nào phục vụ cho vua chúa.

Cho nên, muốn đánh giá nghệ thuật gốm Việt Nam, điều quan trọng là cần đứng chỗ đứng của nghệ thuật dân gian, cần nh́n rơ mối quan hệ giữa gốm và cuộc sống của đông đảo quần chúng đương thời. Không v́ thấy thiếu hào nhoáng, thiếu lộng lẫy mà không thấy cái cốt lơi rất quư của gốm Việt Nam, thường mang tính trong sáng, nhuần nhuyễn, b́nh dị, có khi c̣n thô sơ như tiếng nói giọng ḥ quen thuộc trong nhân dân.

Dưới đây, xin lược qua đặc điểm của một số loại gốm chính Việt Nam bao gồm:

I. Buổi sơ khai của nghệ thuật gốm đất nung

Nhiều cuộc khai quật trong ṿng hai mươi năm trở lại đây cho thấy bộ mặt gốm đất nung cách đây 5.000 năm đến đầu công nguyên thật là phong phú. Có thể nêu lên một số điển h́nh:

Gốm Phùng Nguyên (và gốm nhiều di chỉ cùng loại), cách đây 5.000 đến 4.000 năm, tổ tiên ta đă biết sử dụng bàn xoay thành thục, đă biết trang trí lên gốm bằng những nét khắc tinh xảo, chủ yếu là hoa văn răng lược, khắc vạch, làn sóng, một số thiên về lối h́nh học (như gốm G̣ Bông). Đă biết dùng màu đất trắng và màu đá son tô thắm lên bề mặt h́nh khắc của gốm trước khi nung; đă biết nung độ lửa già nhất của đất nung (như gốm Việt Tiến).

Gốm Đồng Đậu (và gốm nhiều di chỉ cùng loại), cách đây khoảng 3.500 năm, hoa văn càng đa dạng: xoắn ốc, răng cưa, đường chấm song song, h́nh trám in, v.v… Đặc biệt, c̣n t́m thấy tượng ḅ tót, tượng chim, đầu gà…

Gốm G̣ Mun (và gốm nhiều di chỉ cùng loại), cách đây trên 3.000 năm, hoa văn h́nh học chiếm ưu thế. Nhiều hoa văn rơ ràng bắt chước hoa văn trên đồ đồng (kể cả một số hoa văn thuộc gốm Đồng Đậu).

Gốm Phùng Nguyên, Đồng Đậu, G̣ Mun không chỉ sớm phong phú về hoa văn, mà cũng phong phú về h́nh dáng. Nhiều h́nh dáng cho đến sau này vẫn c̣n được bảo tồn trong các ḷ gốm dân gian, như loại ṿ có miệng loe đứng, cổ cao, bụng nở (Đồng Đậu); loại ṿ cũng như nồi cỏ miệng loe rộng, cổ ngắn, bụng nở (Đồng Đậu); loại ṿ, nồi, có miệng loe xiên, cổ thắt (Đồng Xấu); bát, b́nh, cốc, ống nhổ chân thấp, chân cao (Phùng Nguyên), v.v… Ơở miền Nam, gốm vùng châu thổ sông Cửu Long, quăng những thế kỷ đầu công nguyên, gốm Sa Huỳnh quăng thế kỷ thứ 5, cũng có nhiều hoa văn làn sóng, h́nh học, nhiều h́nh dáng rất gần gũi với gốm cổ vùng đồng bằng và trung du Bắc Bộ. Có h́nh dáng điển h́nh của gốm miền Nam như cái lu, cái chĩnh vẫn bảo tồn cho đến nay ở nhiều cơ sở sản xuất gốm trong Nam. Riêng h́nh cái chĩnh khá giống h́nh một số gốm Đông Sơn được phát hiện khá nhiều.

Người ta từng đặt câu hỏi: trong thời đại đồng thau phát triển rực rỡ, gốm đất nung sao vẫn c̣n trang trí ngày một công phu và có xu hướng bắt chước đồ uống, nhất là về mặt hoa văn?

Điều có thể khẳng định được là:

Nghệ thuật dân gian tồn tại và phát triển từ trong cuộc sống của quần chúng, thường được thể hiện rộng răi nhất từ những chất liệu thông thường nhất, từ những đồ dùng thông thường nhất (như đồ mây tre tiếp đến là đồ đất nung).

Nghệ thuật đất nung bắt chước nghệ thuật đồ đồng, không hề giảm mà c̣n làm sáng tỏ thêm phong cách nghệ thuật đồ đồng cùng thời. Gốm bắt chước đồng càng làm càng sáng tỏ thêm quá tŕnh phân hóa giai cấp của xă hội đương thời.

Mối tương quan khá rơ nét giữa các nền nghệ thuật cổ xưa trên cùng một dải đất Việt Nam nói riêng, trên khu vực Đông Nam Aá nói chung được phản ánh qua phong cách nghệ thuật đồ đồng cũng như phong cách nghệ thuật đồ đất nung cùng thời.

2. Gốm hoa nâu và tiền thân của nó

Từ đầu công nguyên đến thế kỷ thứ 10, các nhà nghiên cứu trước đây mới chỉ nhắc đến gốm “Hán bản địa”, tức là những loại gốm đất nung hoặc sành xốp có men hoặc không men, t́m thấy trong các ngôi mộ người Hán chôn cất trên đất Việt Nam, phần lớn làm theo dạng gốm minh khí của Trung Quốc đương thời. Nhưng bên cạnh loại gốm này, c̣n vô số loại đất nung, sành nâu, sành trắng vẫn được tự sản tự tiêu trong các cộng đồng làng xă. Những loại gốm này vẫn tiếp tục những truyền thống của gốm cổ xưa, nhất là về mặt h́nh dáng. Di chỉ Cụ Tŕ (Thanh Miện – Hải Hưng) là một khu vừa mộ táng, vừa cư dân thuộc thời kỳ đó, đă t́m thấy chiếc ṿ, hũ men da lươn mỏng dính, dáng giống dáng gốm Đồng Đậu, và cũng c̣n rất quen thuộc cho đến ngày nay. Men da lươn căn bản làm bằng chất tro pha với đá son, đá thối và một số ít đất, vôi khác mà cha ông ta đă biết tận dụng nguyên liệu địa phương hầu như có sẵn khắp nơi.

Gốm hoa nâu, thường thuộc loại sành xốp, men ngà bóng, hoa văn màu nâu. Hoa được khắc vạch trên xương đất ướt trước khi tô màu. Cũng có loại nền nâu, hoa văn trắng. Dần về sau, gốm hoa nâu được thể hiện theo nhiều kỹ thuật khác nhau, nhưng căn bản vẫn bấy nhiêu chất liệu: men tro, đá son, đá thối hoặc rỉ sắt, hoàn toàn giống nguyên liệu của gốm men da lươn.

Đặc điểm phong cách của gốm hoa nâu là h́nh dáng đầy đặn, chắc khỏe, phù hợp với lối khắc, lối tô mảng to mảng nhỏ sâu nông tùy tiện, và trên nền rất thoáng. Đề tài trang trí rất gắn bó với thiên nhiên và cuộc sống của Việt Nam: tôm, cá, voi, hổ, chim khách, hoa sen, hoa súng, lá khoai nước, lá râm bụt, vơ sĩ đấu giáo, cưỡi voi, v.v… Một số gốm hoa nâu về sau bắt chước phong cách thể hiện của gốm hoa lam. Từ đó, mất dần vẻ đẹp độc đáo của gốm hoa nâu.

Nghiên cứu quá tŕnh phát triển gốm hoa nâu, có thể cho ta một số khẳng định:

Gốm hoa nâu vốn có từ trước thế kỷ 11, ra đời cùng với gốm men da lươn. Việc sử dụng đá son tô lên gốm vốn có từ thời nguyên thủy (gốm Phùng Nguyên). Cho đến ngày nay, ở nhiều ḷ dân gian vẫn có những nghệ nhân dùng chất liệu và kỹ thuật này để làm những tác phẩm riêng biệt.

Giai đoạn tiêu biểu nhất của gốm hoa nâu, về mặt nghệ thuật cũng như kỹ thuật, là từ thế kỷ 11 đến thế kỷ 13. Nó mang rơ nét của loại gốm hoa nâu rất Việt Nam, không một loại gốm nước ngoài nào lẫn lộn được. Chỉ một màu nâu mà tạo ra nhiều sắc thái, không đơn điệu.

Ơở đây, cần nhắc đến luận điểm của một số nhà nghiên cứu Pháp trước đây, cố t́nh cho rằng gốm hoa nâu Việt Nam bắt chước gốm Từ Châu của Trung Quốc.

Thật ra, ḷ h́nh dân gian Từ Châu của Trung Quốc mà tiêu biểu là gốm hoa đen, xét về kỹ thuật, phong cách thể hiện, hoàn toàn không giống gốm hoa nâu Việt Nam: màu đen lấy từ chất gỉ sắt có hàm lượng măng gan nhiều; cách vẽ lưu loát của bút nho không liên quan ǵ đến lối khắc và tô son của gốm hoa nâu Việt Nam. Hơn nữa, đồ án trang trí, lối cách điệu hoàn toàn khác. Cũng như ở Thái Lan, vẫn có gốm hoa nâu với nền màu men da lươn cổ xưa gọi là gốm Su-cô-tai. Nó vẫn có màu sắc sáng tạo riêng của nó.

3. Gốm men ngọc

Gốm men ngọc cũng đă phát triển từ trước thế kỷ 11. Một số lọ men ngọc tảo kỳ, có thể vào thế kỷ thứ 8, thứ 9, dáng rất chắc khỏe, men phủ khá dầy. Khá nhiều hiện vật cùng kiểu men c̣n sống, chứng tỏ kỹ thuật men ngọc ban đầu chưa thành thục. Xương đất và men chứa nhiều hàm lượng sắt, không những tạo điều kiện làm ra men da lươn, mà c̣n tạo điều kiện làm ra men ngọc. Trong nghề gốm, từ những kết quả ngẫu nhiên dẫn đến những kết quả dụng ư là sự việc thường làm. Quy luật t́m ra men ngọc ở Trung Quốc, ở Việt Nam, ở Triều Tiên,… từ thời xưa chắc cũng như vậy với điều kiện nguyên liệu và phương pháp nung tạo kiểu châu Á gần như nhau.

Gốm men ngọc Việt Nam, với hoa văn khắc ch́m hoặc in nổi chủ yếu trong ḷng bát, ḷng đĩa dưới mầu men ngọc trong suốt, cho ta một vẻ đẹp dịu dàng sâu đậm. Cũng có cái do việc nung lửa không đều, mà từ mầu ngọc xanh ngả sang mầu vàng úa, vàng nâu. Đề tài trang trí thường là hoa lá, chim phượng, một số ít có h́nh người lẫn trong hoa lá. Hoa văn men ngọc có ảnh hưởng nhiều của hoa văn chạm khắc lên đá đương thời.
Một số học giả phương tây trước đây cho rằng gốm men ngọc Việt Nam mà họ mệnh danh là đồ Tống Thanh Hóa (v́ t́m thấy nhiều tại Thanh Hóa), do các “di thần” nhà Tống biết nghề gốm làm ra. Họ là những người chạy loạn sang Việt Nam dưới thời Trung Quốc bị quân Nguyên xâm chiếm (1279 – 1368). Một số học giả Việt Nam trước đây cũng vội vă trích dẫn theo. Đó là điều lầm lẫn đáng tiếc và hoàn toàn thiếu khoa học.

Thật ra, gốm men ngọc Trung Quốc thời Bắc Tống hay Nam Tống, xương đất rất đanh và nặng, hầu như đă thành sứ. Chất liệu men cũng nặng về thành phần đá hơn là gio, nên xương đất và men quyện vào nhau. Mầu men ngọc được chủ động do điều khiển lửa hoàn nguyên khá cao và chính xác. Nhưng một số ít men ngọc thuộc các ḷ dâu vùng Hoa Nam, đặc biệt là vùng Quảng Đông, th́ xương rất nhẹ, phủ men gio, nên bộ mặt có những nét dễ giống với gốm men ngọc Việt Nam. Trường hợp này, vẫn có thêm nhiều yếu tố đối chứng khác để phân biệt.

Gốm men ngọc cũng rất thịnh hành ở những thế kỷ 11 đến thế kỷ 13, nửa đầu thế kỷ 14. Khi có gốm hoa lam và gốm nhiều mầu, th́ gốm men ngọc, cũng như gốm hoa nâu, phải nhường bước cho loại gốm mới. Đó là điều tất yếu. Mấy học giả phương Tây cho rằng khi quân Minh chiếm lại đất Trung Quốc, các di thần nhà Tống trở về nước, đem theo cả bí quyết làm gốm men ngọc, nên “đồ Tống Thanh Hóa” bị mai một. Đó là lối suy diễn nếu không có dụng ư, th́ cũng không dựa trên một cứ liệu khoa học nào cả.

4. Gốm hoa lam

Gốm hoa lam có từ cuối thế kỷ 14. H́nh dáng và bút pháp ban đầu rất đơn giản. Mầu lam dưới men lộ rơ sắc, men bám chặt vào xương đất có độ rắn cao. Đó là loại “sành sứ” được phát triển cho đến ngày nay, tuy phong cách mỗi thời đều có thay đổi. Gốm hoa lam thường trang trí dưới men, nhưng không khắc vạch, và chỉ vẽ lối nhẹ nhàng như thủy mạc. Vẽ đẹp tiêu biểu của gốm hoa lam Việt Nam là lối vẽ phóng bút trên các lọ hoa, chân đèn, bát đĩa to hoặc nhỏ nhất là từ cuối thế kỷ 15 đến cuối thế kỷ 17. Đề tài trang trí thường là rồng, phượng, mây, hoa sen, hoa cúc dây, v.v… Với mầu lam ngả về xám trên nền trắng hơi ngà. H́nh dáng của loại này cũng có nhiều cái đẹp độc đáo: bát, chén, đĩa chân rất to và rất cao; chân đèn, lọ hoa dáng khỏe mà thanh nhă. Đặc biệt từ giữa thế kỷ 15, một số chân đèn, lư hương, lọ hoa, con giống không những khắc niên đại mà có khi c̣n khắc cả tên người làm. Đó là điều rất hiếm trong nghệ thuật cổ đại Việt Nam. Cũng cần nói thêm: bát men ngọc thời Lư th́ chân nhỏ xíu và bát hoa lam thời này chân rất to và cao, trước tiên là do yêu cầu kỹ thuật thay đổi có lợi về mặt kinh tế (từ việc sử dụng con kể chuyển sang cạo men ở ḷng bát để chồng lên nhau khi vào ḷ, th́ với một loại xương đất nào đó, buộc phải chuyển việc làm bát từ chân nhỏ thành chân to và cao để khỏi dính nhau). Có nhiều học giả nước ngoài và trong nước trước đây nhân cái bát chân to nhỏ khác nhau mà đoán định nguyên nhân chính thuộc về mặt tư duy, hoặc thuộc về mặt tôn giáo là không đúng. Điều đáng nêu là sự phối hợp giữa kỹ thuật và nghệ thuật ở đây khá tài t́nh; làm cho gốm chân nhỏ hay chân to đều tạo nên được vẻ đẹp đáng giá.

Gốm hoa lam từ thế kỷ 19 trở về sau kém đẹp có lẽ do thị trường xuất khẩu hạn chế. Nước men kém trong, do chất liệu về đất pha vào men có thay đổi. Như nhiều loại b́nh, chóe có niên hiệu Gia Long không những men kém chảy, kém trong mà h́nh dáng nặng nề, trang trí mảnh dẻ không ăn với nhau, báo hiệu giai đoạn đi xuống của gốm hoa lam. Về sau, kỹ thuật gốm hoa lam có tiến bộ hơn; nhưng lối vẽ tay thành thục của những thế kỷ xưa nhường bước cho lối in hoa, không cho phép trở lại cái đẹp như trước được nữa.

Gốm hoa lam Việt Nam đối chiếu với gốm hoa lam dân gian Trung Quốc xuất hiện từ đời Minh trở về sau có mối ảnh hưởng qua lại. Nhưng bút pháp mỗi bên đều vẫn nhận ra sự khác biệt căn bản.

5. Gốm vẽ mầu trên men và gốm nhiều men mầu.

Gốm vẽ mầu trên men dường như chỉ để xuất khẩu. Hiện nay, mới phát triển các loại bát đĩa với h́nh dáng và xương đất giống các loại gốm hoa lam ở những thế kỷ 15, 16. Mầu trên men chủ yếu là mầu đỏ đậm, mầu xanh đồng, mầu lam nhạt. Theo tư liệu trong nước và nước ngoài, đối chiếu với một số gốm cổ Việt Nam phát hiện tại Nhật Bản, Nam Dương, Phi Luật Tân, càng xác minh loại gốm này xuất bán tại các nước vùng Đông Nam Aá khá nhiều ở thời điểm trên. Hiện vật gốm mầu trên men c̣n sót lại ở Việt Nam rất hiếm. Viện bảo tàng lịch sử c̣n giữ được một bát miệng loe, mầu trên men đă bị bong nhiều. Sở Văn hóa Hà Nội c̣n giữ được một đĩa to vẽ kỳ lân, mầu cũng đă bị bong ít nhiều.

Gốm nhiều men mầu, thịnh nhất và đẹp nhất là ở thế kỷ 10, 17. Giai đoạn này, nghệ thuật điêu khắc gỗ ở các đ́nh chùa đạt đến đỉnh cao. Gốm dùng vào việc thờ cúng cũng bắt chước điêu khắc gỗ; rất nhiều lư hương, chân đèn, gốm chạm trổ công phu theo kiểu nghi môn, cửa vơng, với đề tài rồng, phượng, hạc, tôm, cá, người v.v… y hệt kiểu chạm gỗ đương thời. Hiện vật được phủ các mầu men vàng đậm, xanh đồng, lam, trắng ngà chảy bóng và trong suốt quyện vào nhau; lại có mảng để mộc không men. Tất cả tạo nên một ḥa sắc quư và đẹp đặc biệt Việt Nam.

Sau này, gốm nhiều men mầu khôg được đẹp như trước, như gốm trang trí chùa Hưng Kư (Hà Nội) hay gốm men mầu ở Biên Ḥa, Lái Thiêu (Thành phố Hồ Chí Minh). Loại men này đă chuyển sang một công thức khác, tuy dễ làm, nhưng nước men bị đục như nước sơn tây, hạn chế diễn tả được chiều sâu của gốm.

6. Gốm trong kiến trúc

Đẹp của gốm Việt Nam không chỉ trong đồ dùng, mà cả trong kiến trúc. Năm 1937, trong cuộc khai quật di chỉ chùa Vạn Phúc (Phật Tích), t́m thấy các loại gạch và đá chạm trổ h́nh rồng, phượng, hoa văn của thế kỷ 11. Có viên gạch c̣n ghi rơ niên hiệu dựng tháp “Năm Long Thụy Thái B́nh thứ 4, triều vua thứ 3 nhà Lư” (1057). Văn bia của ngôi chùa cũng ghi rơ “Vị hoàng đế thứ 3 của nhà Lư (Lư Thánh Tôn) năm Long Thụy Thái B́nh thứ 4 cho dựng ở đây một ngọn bảo tháp cao 10 trượng (42m) và một pho tượng thếp vàng cao 6 xích (2,4 mét). Tháng chạp 1940, cuộc khai quật thứ hai t́m thấy chân tháp nằm sát mặt đất, mỗi chiều dài 8,5 mét c̣n nguyên vẹn các lớp tường và chân tháp dày 2,75 mét, xây bằng nhiều loại gạch kích thước khác nhau…

Tại Vĩnh Phú, tháp gạch B́nh Sơn xây vào thế kỷ 14, với công tŕnh chạm trổ cũng rất công phu; gồm 14 tầng, cao và to bằng nửa tháp Vạn Phúc. Trong những năm giặc Mỹ bắn phá ác liệt; Chính phủ ta vẫn cho tu sửa lớn v́ tháp sắp đổ. Qua tu sửa, phát hiện tháp này đă có một lần bị xáo trộn để xây lại vào thời Lê (do có một số gạch chạm thay thế có họa tiết muôn hoa, và do gạch một số tầng thấy được xếp lại lẫn lộn). Qua nghiên cứu tháp B́nh Sơn và những mẫu gạch ở tháp chùa Vạn Phúc; cũng như ở một số nơi khác, có thể h́nh dung lối làm tháp cổ của Việt Nam như sau:

Tháp gạch chạm nổi của Việt Nam là một loại kiến trúc khá quen thuộc thời xưa. Có những phường thơ chuyên xây tháp khá đồng bộ.

Do quá quen thuộc, nên kiểu cách và mẫu trang trí trên tháp chỉ cần được phác thảo sơ qua trên các viên gạch ướt tại công trường làm tháp. Qua đó, các nghệ nhân đă lĩnh hội kiểu cách, kích thước để tiến hành mọi công việc xây tháp. Đây là lối sáng tạo dân gian, dùng trí tưởng tượng là chính, dùng đồ án là phụ.

Việc xây lớp gạch trang trí bên ngoài của tháp là làm thành từng lớp đắp nổi dính liền 4 mặt với nhau. Sau đó, tùy t́nh h́nh mà cắt ra từng mảnh không đều để đem nung. Nhờ thế mà nh́n chung toàn bộ tháp, các ô gạch không đều đă tạo thành một phong cách khá thoải mái, tùy tiện trong cái thế cân đối chung.

Lối xây tháp B́nh Sơn khác xa lối xây tháp Chàm xưa kia. Tháp Chàm thường xây độ dày ít nhất là 3m. Người ta xây gạch lớp ngoài rất đều nhau với một chất vữa hết sức mỏng và rất kết dính, hiện chưa t́m ra công thức. Chỉ khi nào xây gạch xong, người ta mới đục chạm lên tháp đă tạo nên những h́nh nổi trang trí rất tinh xảo. Hiện có một số tháp c̣n để lại dấu vết đục chạm chưa xong ở một hai mặt, chứng tỏ nhận định này là đúng. Có giả thuyết trước đây cho rằng tháp được chạm trổ khi c̣n ướt, rồi phủ chất đốt để nung. Giả thiết này, chỉ riêng xét về mặt phản ứng lư hóa, cũng đă thấy hoàn toàn không đứng vững.

Ngoài những tháp gạch lớn, c̣n có khá nhiều tháp nhỏ có phủ men xanh đồng rất đẹp: “Tháp xanh” cạnh tháp B́nh Sơn, hiện c̣n để lại một mẫu gạch đất trắng men xanh h́nh cánh sen đắp nổi, cùng kiểu cách với tháp B́nh Sơn; Tháp gạch men xanh phía sau chùa Phổ Minh (Hà Nam Ninh) c̣n khá nguyên vẹn nhưng men đă tróc gần hết. Một số tháp men xanh nhỏ bị đổ nát trên núi Yên Tử hiện c̣n dấu vết… Bệ thờ đất nung chạm nổi chùa Mui (Hà Sơn B́nh), thành miệng giếng nước đất nung h́nh cánh sen Hải Hưng) cũng đều là những công tŕnh kiến trúc đẹp và hiếm có, c̣n giữ lại được đôi phần.

Nh́n chung về gốm kiến trúc, th́ những công tŕnh cổ đại khá công phu, nhiều kỹ thuật phức tạp, nhiều phong cách nghệ thuật vừa đồ sộ, vừa tinh tế; chỉ một loại gạch nung mà không đơn điệu. Trong thời đại ngày nay, nếu biết phát huy truyền thống gốm kiến trúc xưa để áp dụng vào những đài kỷ niệm lớn th́ chắc chắn sẽ đem lại kết quả lớn.

T́m hiểu nghệ thuật gốm Việt Nam đ̣i hỏi nhiều công phu, nhiều thời gian. Trong hàng chục năm qua, những công việc sưu tầm, đối chiếu, hệ thống hóa tư liệu và hiện vật gốm; những công việc nghiên cứu, thể nghiệm các loại gốm cổ truyền, những kết quả của nhiều cuộc khai quật di chỉ, đă thực sự giúp ta khẳng định quá tŕnh phát triển nghệ thuật gốm Việt Nam thêm rơ ràng và chính xác, có cơ sở để loại bỏ những đoán định sai lầm về gốm Việt Nam do vô t́nh hay dụng ư xấu của một số học giả nước ngoài trước đây. Trong tương lai, việc khai quật được tiến hành đồng đều khắp cả nước, việc phát hiện nhiều ḷ gốm xưa điển h́nh; sẽ bổ sung dần lịch sử nghệ thuật gốm Việt Nam phong phú và giàu tính khoa học hơn.

Phát huy truyền thống xưa, đưa nghệ thuật gốm hiện đại đến một mức cao hơn trong việc phục vụ nhiều mặt của cuộc sống xă hội ngày nay. Đó là xu hướng chung mà nhiều nước trên thế giới hiện đang đề cập tới. Đó cũng là yêu cầu, mục đích của nghệ thuật gốm Việt Nam hiện c̣n nhiều khả năng tiềm tàng, đang chờ đón những ngày nở rộ.
nguồn:cinet.gov.vn
__________________
Người sưu tầm đồ cổ yêu vợ nhiều hơn lúc về già
View admin's Photo Album admin đang ẩn   Trả lời với trích dẫn
Cũ 04-05-2011, 07:21 AM   #5 (permalink)
Administrator
Xem bộ sưu tập
 
Tham gia ngày: Jun 2009
Bài gửi: 193
Thanks: 1
Thanked 32 Times in 26 Posts
Mặc định 7 đặc điểm nhận biết gốm cổ




Gốm sứ có một quá tŕnh h́nh hành và phát triển lâu dài, sản phẩm luôn đa dạng, phong phú. Đặc biệt là gốm màu. Mỗi vùng đất vào mỗi thời kỳ lịch sử đều có một phương pháp chế tạo khác nhau. Công nghệ chế tạo ngày càng phát triển, việc xuất hiện hàng giả là không thể tránh khỏi. Những phương pháp sau giúp bạn phân biệt được hàng thật, hàng giả:


  • Gốm màu đă xuất hiện từ rất lâu, lúc đó, việc sản xuất gốm mang tính chế tác cá thể, không thể xuất hiện những sản phẩm cùng loại, cùng một kích thước. V́ vậy, khi thu mua sản phẩm gốm cổ, nếu phát hiện những sản phẩm gốm màu có cùng kích thước, hoa văn trang trí giống hệt nhau th́ chắc chắn, đó là hàng giả.
  • Gốm cổ thường được nung bằng củi nên sản phẩm có độ tơi xốp, khá nhẹ, có những lỗ thoát khí nhỏ. Hàng giả thường được nung bằng than hoặc ḷ điện, mật độ chất dày đặc, khá cứng, không có lỗ thoát khí.
  • Nguyên liệu chế tạo gốm cổ là khoáng sản, mang một cảm giác cổ xưa, thuần phác, màu sắc dịu nhẹ. Hàng giả thường dùng nguyên liệu màu thông thường, màu sắc sặc sỡ, nhưng rất khó tróc khi nung nóng.
  • Gốm màu được chôn vùi dưới đất mấy ngh́n năm nên khi ngửi, có mùi đất nhẹ, đôi khi c̣n có dấu tích của bộ rễ thực vật. Một số loại gốm giả cũng có thể ngửi thấy mùi đất và có dấu tích của bộ rễ. Vậy, làm sao để phân biệt được đâu là thật, đâu là giả? Thường, mùi đất mà hàng giả có được là mùi khói của đất hầm (đất địa đạo) bay lên nên mùi rất gắt. Vết tích của bộ rễ thực vật cũng có thể làm giả bằng phương pháp ăn ṃn hóa học, nhưng vết tích của hàng giả thường bị lơm, ch́m trong bề mặt sản phẩm.
  • Do bị chôn vùi lâu dưới ḷng đất, tùy nơi ruộng cạn hoặc ruộng nước mà độ kiềm lắng đọng trên bề mặt cũng khác nhau, có loại, khi khai quật, trên sản phẩm có một lớp kiềm dày màu vàng hoặc trắng, rất cứng; có loại lại không có ngấn nước nào. Hàng giả cũng có ngấn nước, nhưng ngấn nước này được làm bằng keo trong, khá mỏng, không có độ cứng, khi sờ vào có cảm giác dính.
  • Những hoa văn trang trí trên gốm sứ được dùng từ nguyên liệu khoáng sản thiên nhiên, vẽ xong rồi nung, độ bám rất cao, khó bị tróc. Nhưng do sự ăn ṃn của độ ẩm và chất phèn dưới ḷng đất cùng với chất liệu gốm khác nhau mà màu sắc của gốm sứ cũng bị tróc ở những mức độ khác nhau, có thể dùng tay chà nhẹ làm bong lớp sơn bên ngoài của những sản phẩm gốm cổ. Ngược lại, loại hàng giả được làm với kỹ thuật tinh vi, lớp sơn bên ngoài rất bền. V́ vậy, việc giám định hàng giả, hàng thật không phải là chuyện một sớm một chiều, đ̣i hỏi phải có một kiến thức sâu rộng, phải t́m hiểu, nghiên cứu kỹ lưỡng.
  • Do dùng phương pháp đun nóng ở nhiệt độ thấp, nên gốm giả có khả năng thấm nước cao hơn gốm cổ. Tuy nhiên, nếu bôi lên bên ngoài lớp gốm một ít a–xít, sẽ phân biệt được đâu là thật, đâu là giả: hàng giả sẽ không bốc khói, không sinh ra bọt; ngược lại, hàng thật có sinh khói, có bọt.
Tóm lại, gốm màu cổ ra đời cùng với những điều kiện của lịch sử đương đại, nắm bắt được những đặc điểm của lịch sử là mấu chốt của việc giám định.




Nguyên Sa lược dịch
Nguồn: Ciqi.cn
__________________
Người sưu tầm đồ cổ yêu vợ nhiều hơn lúc về già
View admin's Photo Album admin đang ẩn   Trả lời với trích dẫn
The Following User Says Thank You to admin For This Useful Post:
mstory (30-11-2011)
Cũ 30-11-2011, 01:34 PM   #6 (permalink)
Cổ Đồ
Xem bộ sưu tập
 
Tham gia ngày: Nov 2011
Bài gửi: 32
Thanks: 23
Thanked 0 Times in 0 Posts
Mặc định

Đồ gốm việt nam thật là độc đáo
View mstory's Photo Album mstory đang ẩn   Trả lời với trích dẫn
Cũ 12-01-2012, 09:12 PM   #7 (permalink)
Banned
Xem bộ sưu tập
 
Tham gia ngày: Jan 2012
Bài gửi: 58
Thanks: 0
Thanked 0 Times in 0 Posts
Mặc định

bài viết hay quá, cảm ơn các bạn nha
View thuypx1983's Photo Album thuypx1983 đang ẩn   Trả lời với trích dẫn
Trả lời

Đánh dấu

Tags
gốm cổ

Công cụ bài viết
Kiểu hiển thị

Quyền viết bài
Bạn không thể gửi chủ đề mới
Bạn không thể gửi trả lời
Bạn không thể gửi file đính kèm
Bạn không thể sửa bài viết của ḿnh

BB code đang Mở
Mặt cười đang Mở
[IMG] đang Mở
HTML đang Tắt
Trackbacks are Mở
Pingbacks are Mở
Refbacks are Mở


Chủ đề tương tự
Chủ đề Người khởi xướng chủ đề Diễn đàn Trả lời Bài cuối
Các tiền bối xem thử cho em cái mâm này ! namdanang Giám định đồ cổ 4 26-05-2011 04:23 PM
Truyền thông quốc tế ngả mũ trước Messi và đồng đội trangkutehd Bóng Đá 0 30-11-2010 07:17 PM
Miền Trung đối mặt với lũ lịch sử sau băo long_k Tin tức sự kiện 0 30-09-2009 09:34 AM
T́m hiểu kiến trúc cổ truyền Việt Nam xeco Nhà Cổ 0 23-06-2009 11:52 PM


Múi giờ GMT +7. Hiện tại là 06:51 PM



Sử dụng mă nguồn vBulletin® Phiên bản 3.8.3
© 2007 - 2012 Nhóm phát triển website và thành viên CHOIDOCO.COM.
BQT không chịu bất cứ trách nhiệm nào từ bài viết của thành viên. Ad Management by RedTyger