Chúng ta đă biết lịch sử đồ gốm Việt Nam đă bắt đầu từ những món đồ bằng đất sét trộn bột vỏ ṣ không tráng men, dùng khuôn bằng giỏ đan, màu nâu đậm hay nâu nhạt từ gần mười hai ngàn năm trước đây (từ khoảng 9390 BC), qua những vật tích t́m được ở Hoà B́nh, ở Bắc Sơn, ở Quảng Yên, ở Thanh Hoá.
Những vật tích này là dấu vết c̣n sót lại của nền văn hóa Bắc Sơn đă cho ta thấy, ông cha ta không phải là những người đi từ miền Nam Trung Hoa xuống và cũng không có liên hệ văn hóa hay chủng tộc với người Trung Hoa cả. Vào cùng thời kỳ này, nước Trung Hoa chưa hiện hữu và văn minh cổ đại của Trung Hoa chưa xuất hiện.
Ta cũng suy rằng, vào thời kỳ đó, ở lục địa Trung Hoa chắc cũng có rất nhiều sắc dân, nhiều nền văn hóa biệt lập mà sau này đă tàn lụi từ khoảng năm 4500 BC khi Phục Hy, Thần Nông làm vua ở vùng đất Tây Bắc Trung Hoa. Nhận ra điều này, chúng ta không nên nhắc lại các điều sai lầm rằng dân Việt ta vốn ở vùng Hoa Nam rồi bị người Tàu xua dần về vùng Bắc Việt bây giờ, hay dân Việt ta vốn có liên hệ với nước Việt của Câu Tiễn [1] , hay văn hóa Việt vốn bắt nguồn từ văn hóa Trung Hoa. Ta thấy rơ rằng truyền thuyết nguồn gốc dân tộc ta từ: “ Đế Minh là cháu ba đời của vua Thần Nông đi tuần thú phương Nam, đến núi Ngũ Lĩnh (thuộc tỉnh Hồ Nam bây giờ) gặp một nàng tiên đẻ ra người con tên là Lộc Tục. Sau Đế Minh truyền ngôi cho con trưởng là Đế Nghi làm vua phương Bắc, và phong cho Lộc Tục làm vua phương Nam, xưng là Kinh Dương Vương, quốc hiệu là Xích Quỷ…. ” chỉ là câu chuyện tạo nên do thói quen của các nhà Nho thuở trước, cho rằng nếu ḿnh không có liên hệ với các vua cổ đại Trung Hoa th́ không được chính thống. Họ đâu biết rằng ông cha ta đă sinh sống ở vùng miền Bắc Việt Nam trước Thần Nông bốn ngàn năm rồi. 15 bộ của các vua Hùng nằm trong địa hạn Bắc Việt hiện nay (từ Lạng Sơn, Cao Bằng xuống Quảng B́nh), hoàn toàn trong phạm vi thung lũng các sông Hồng, sông Mă, sông Đà, Sông Cả mà không hề có phần đất nào trong vùng Nam Trung Hoa cả. Truyền kỳ “Con Rồng cháu Tiên” là truyền kỳ cao đẹp hun đúc tinh thần Việt Nam suốt mấy ngàn năm nay, và càng nên được duy tŕ, phổ biến.
Tuy nhiên khi nh́n về lịch sử, ta phải nên nh́n xa hơn về thời gian và gần hơn về không gian. Trong suốt thời Xuân Thu, Chiến Quốc, ông cha ta vẫn sống độc lập, vẫn phát triển nền văn minh Việt Nam hoàn toàn khác văn minh Trung Hoa (tiếng nói, văn phạm ta hoàn toàn khác, ta xâm ḿnh, ăn trầu, đúc trống đồng, trong khi người Tàu không hề có các tục đó). Sau này, từ khi Triệu Đà (người Tàu) chiếm nước ta để nhập vào vùng Hoa Nam lập ra nước Nam Việt và “đem chính trị, pháp luật nước Tàu sang cai trị” (Việt Nam sử lược - Trần Trọng Kim) qua đến thời Hán thuộc, kẻ cai trị là người Tàu đẩy mạnh việc mang phong tục, văn hoá Trung Hoa sang để đồng hóa ông cha ta, mà cuối cùng cũng vẫn thất bại, v́ ông cha ta chỉ học lấy một số điều lợi ích cho đời sống mà vẫn duy tŕ bản sắc riêng. Phần đất Hoa Nam của Triệu Đà người Tàu lấy lại.
Nước Việt ta vẫn ở vùng Bắc Việt và Bắc Trung Việt bây giờ. Trong phạm vi đồ gốm – nét văn minh sơ khởi nhất của con người, bởi v́ không có đồ gốm để nấu nướng, cất giữ, ăn uống th́ nền văn minh không h́nh thành – ông cha ta tiếp tục phát huy, học hỏi và ứng dụng kinh nghiệm vào việc chế tạo đồ gốm, tạo nên các nền văn hoá Phùng Nguyên (2000 BC), văn hoá Đông Sơn (500 BC).
Dù di tích c̣n rất ít, nhưng đồ gốm Việt Nam trong thời này đă cho thấy sắc thái của một nền văn hóa cá biệt. Trong những thế kỷ sau đó, đồ gốm Việt Nam đạt được mức phát triển rất cao, đă xuất cảng sang Ả Rập, Phi Luật Tân, Nam Dương… Vào thế kỷ thứ 9, khách thương Ả Rập Ibn Khurdadhbih đă từng viết về cuộc du hành của ông ghé qua Long Biên trước khi đến Quảng Châu. Sang thế kỷ thứ 10, dưới thời Thập Nhị Sứ Quân, đồ gốm với nước men trong, dày, khá đều, với hoa văn chim hạc, cọp, voi, hoa sen, hoa cúc… đă xuất hiện nhiều. Người thợ Việt Nam đă biết cách làm các đường rạn thưa hay dày theo ư muốn. Rồi từ đời Lư (đầu thế kỷ 11) đồ gốm Việt Nam phát triển một cách huy hoàng. Nhiều loại men (các loại Lư Nâu, Lư Đen, Lư Trắng, Lư Lục, men ngọc), nhiều hoa văn, nhiều thể loại tràn lan khắp nơi, từ chốn triều đ́nh, chùa, miếu đến thôn dă trong suốt từ thế kỷ 11 đến hết thế kỷ 16 (đời Hậu Lê).
Từ cuối thế kỷ 14, ta thấy phát triển loại men, loại hoa văn vô cùng độc đáo, rất cao cả về kỹ thuật lẫn mỹ thuật. Đó là thời kỳ tột đỉnh của đồ gốm Việt Nam, loại đồ gốm ngày nay được biết dưới tên “Đồ gốm Chu Đậu”. Tiếc thay, nền kỹ thuật và mỹ thuật này đă tàn lụi vào đầu thế kỷ 17, sau những trận chiến dữ dội thời Lê Mạc.
__________________
Người sưu tầm đồ cổ yêu vợ nhiều hơn lúc về già
Đồ gốm Chu Đậu ch́m sâu trong ḷng đất, dưới đáy biển suốt mấy trăm năm. Những món c̣n được lưu giữ ở các viện bảo tàng bên Châu Âu th́ đă từng bị xếp lộn vào đồ gốm Trung Hoa. Gốm Chu Đậu chỉ được biết đến và t́m hiểu từ khi ông Makato Anabuki (thuộc ṭa đại sứ Nhật Bản ở Hà Nội) nh́n thấy một b́nh cao cổ men trắng xanh, hoa văn cánh sen và hoa mẫu đơn, với câu “Thái Hoà bát niên.
Nam Sách châu, tượng nhân Bùi thị hư bút” (nghĩa là: ở phủ Nam Sách, năm Thái Ḥa thứ tám, bà họa sĩ họ Bùi vẽ chơi), ở viện bảo tàng Topkapi Saray Museum (Istanbul, Turkey). Địa danh Nam Sách Châu cho ta biết nơi chế tạo (phủ Nam Sách tỉnh Hải Dương), và chữ Thái Ḥa bát niên cho ta biết năm chế tạo (1450 năm Thái Ḥa thứ tám, đời vua Lê Nhân Tông). Từ đây những nhà khảo cổ mới hướng về phủ Nam Sách, rồi năm 1983 ở làng Chu Đậu, dưới vườn nhà một nông dân là ông Vang, người ta đào được các di tích ḷ gốm.
Việc t́m kiếm, khai quật bắt đầu. Người ta t́m thấy cả một nền đồ gốm rực rỡ, thịnh vượng kéo dài 3, 4 thế kỷ. Những khai quật này đưa đến trung tâm của nền nghệ thuật này: Phủ Nam Sách, tỉnh Hải Dương. Ở đây, ngoài làng Chu Đậu, c̣n có các ḷ gốm khác ở làng Vạn Yên, làng Gốm, làng Ngói, làng Phú Điền, làng Phúc Lăo, làng Cậy…. Đồ gốm Chu Đậu được phát hiện nhiều trong các ngôi mộ cổ, đ́nh chùa, từ đường, và nhiều nhất là dưới các tàu buôn ch́m ngoài khơi Hội An, Đà Nẵng… Từ đây người ta ít gọi các món đồ này là đồ men trắng chàm (nền men trắng, hoa văn màu chàm – màu xanh lơ) mà gọi bằng tên đồ gốm Chu Đậu, bởi đây là nơi di tích các ḷ gốm cổ sản xuất loại đồ gốm này được khám phá ra trước nhất.
Những khai quật trong năm 1986, 1987, 1989, 1991, 1992 và 1993, cho thấy đồ gốm Chu Đậu được sản xuất ở rất nhiều nơi gần bờ sông trong tỉnh Hải Dương, tập trung nhiều nhất ở phủ Nam Sách. Công lớn về những khám phá này là của ông Tăng Bá Hoành, giám đốc viện bảo
tàng Hải Dương, người đă nghiên cứu, ǵn giữ và viết rất kỹ lưỡng về đồ gốm Chu Đậu t́m được trong các cuộc khai quật này. Đồ gốm Chu Đậu h́nh dáng thanh tao, nước men trong mà mỏng, hoa văn đầy h́nh ảnh đời sống thôn làng Việt Nam.
Đồ gốm Chu Đậu bắt đầu được sản xuất từ cuối thế kỷ 14, rực rỡ nhất vào thế kỷ 15, 16 rồi tàn lụi vào đầu thế kỷ 17, trong khi các ḷ gốm khác ở Hải Dương c̣n sản xuất những món đồ không men (nồi đất, chum, vại…) cho đến thế kỷ 18, hay cho măi đến bây giờ như làng Cậy, làng Lâm Xuyên (chuyên làm nồi đất không men). Làng Chu Đậu từ lâu nổi tiếng về nghề dệt chiếu. Trước đây, ở ngoài Bắc, khi trong nhà có người lấy vợ, người khá tiền thường mua một vài cặp “chiếu Đậu” để cho cô dâu chú rể dùng. Dân làng bây giờ chỉ c̣n biết làm ruộng và dệt chiếu, họ không biết làm đồ gốm nữa và cũng không ngờ rằng ông cha họ đă từng làm những món đồ gốm tinh xảo, tuyệt mỹ.
Các ḷ gốm ngày xưa nay đă nằm sâu dưới ruộng nương, vườn tược. Một địa danh trong làng là “Đống Ḷ”, nhưng dân làng không biết là ḷ ǵ. Từ đầu thế kỷ 17, nghề làm đồ gốm ở đây tự nhiên mất tích, không c̣n ḷ gốm, không c̣n người làm đồ gốm. Dấu vết ch́m sâu dưới ḷng đất, biến hẳn trong kư ức dân làng! Bao quanh bởi nhiều con sông lớn, người dân làng Chu Đậu có những phương tiện giao thông tiện lợi. Họ có thể chuyển đồ lên Thăng Long, ra Phố Hiến, Vân Đồn để bán trong nước, để xuất cảng ra nước ngoài. Họ có thể chuyên chở đất sét mịn mua từ Hố Lao (Đông Triều, Quảng Yên) chỉ cách đó 30km một cách nhanh chóng, dễ dàng. Thành công về thương măi, họ có cơ hội, có phương tiện, có động cơ phát huy nghệ thuật và kỹ thuật rất cao. Tiếc thay, thời cuộc đă hủy diệt mất một nền kỹ thuật và mỹ thuật giá trị của dân ta.
Những ḍng họ tài danh nhất về đồ gốm ở làng Chu Đậu là họ Đặng, họ Vương. họ Bùi, họ Đỗ, với những kỳ tài như vợ chồng Đặng Huyền Thông - Nguyễn Thị Đỉnh, Đặng Hữu, Đặng Tính Không. Ông Tăng Bá Hoành, trong Gốm Chu Đậu, có trích gia phả nhà Họ Vương câu: “Nam Sách phủ, Thanh Lâm huyện, Đặng Xá xă, dĩ đào bát vi nghiệp, hậu nhất chi di cư Gia Lâm huyện, Bát Tràng xă. Cụ Vương Quốc Doanh hưng công dĩ đào bát vi nghiệp” (họ Vương ở xă Đào Xá huyện Thanh Lâm, phủ Nam Sách làm nghề đồ gốm; Sau một chi di cư về xă Bát Tràng, huyện Gia Lâm, và cụ Vương Quốc Doanh làm hưng thịnh nghề đồ gốm ở đấy).
Đồ gốm Chu Đậu cũng có nhiều thứ như men ngọc (celadon), men nâu, men trắng, men lục. Tuy nhiên tiêu biểu nhất là men trắng trong với hoa văn màu xanh (men trắng chàm) và men trắng trong với hoa văn ba màu vàng, đỏ nâu và xanh lục (men tam thái). Men ngọc, men trắng, men nâu và men nâu đen thường bị lẫn với đồ gốm đời Lư Trần, tuy nhiên, hoa văn trên men Lư nhiều ảnh hưởng Phật giáo, hoa văn Chu Đậu phản ảnh đời sống nông thôn Việt Nam, hoa văn trên men Lư thường được vẽ bằng cách khắc ch́m hay khắc nổi, hoa văn Chu Đậu được vẽ bằng men màu.
Men ngọc thời Chu Đậu cầm thấy nặng tay, chất đất thô hơn và tiếng gơ không thanh như men ngọc của người Tàu. B́nh ấm thời Lư thường có ṿi h́nh đầu rồng, h́nh ṿi voi, h́nh đầu chim, h́nh makara, gurada (makara: thủy quái của thần thoại Ấn Độ, gurada: chim thần của thần Vishnu - Ấn Độ giáo)… Các bát đĩa đời Lư thường c̣n dấu con kê rơ ràng; đồ gốm Chu Đậu khéo hơn, dấu con kê không c̣n nữa. Đáy các chén đĩa thời Lư thường để trơ đất mộc, đáy của đồ gốm Chu Đậu thường được quét một lớp son nâu, màu đậm, thường khi vẫn c̣n nguyên dấu bút. Lớp son nâu này không phải là men, mà chỉ là một lớp son pha màu nâu rất mỏng để bảo vệ đáy chén đĩa. Đây cũng là những đặc điểm phân biệt đồ gốm ta và đồ gốm Tàu. Gốm Tàu không bao giờ để trơ đất mộc, hay quét son nâu, cũng không có dấu con kê. Con kê là một kỹ thuật hoàn toàn Việt Nam. Kỹ thuật này dù làm cho món đồ kém đi chút phẩm chất, nhưng lại là một phát kiến riêng của người thợ Việt Nam, nhằm tránh cho chén đĩa không bị dính vào nhau khi nung mà lại tiết kiệm được diện tích ḷ. Men trắng Chàm và men tam thái nổi danh và được ưa chuộng hơn cả. Men trắng chàm (nền men trắng, hoa văn màu xanh biếc) chiếm số lượng cao nhất.
Các món đồ vớt được ở ngoài khơi Đà Nẵng - Hội An cũng đều là men trắng chàm. Do đó, khi nói về đồ gốm Chu Đậu, người ta chỉ thường biết về loại này mà ít để ư đến các loại men khác. Đồ gốm Chu Đậu men trắng chàm thường thấy bây giờ là những món chúng tôi coi là thuộc hạng kém hơn về phẩm chất. Những món có phẩm chất cao, tuyệt đẹp đă nằm trong tay các nhà sưu tập chuyên nghiệp ở Âu Châu, Úc Châu, Singapore, Hong Kong, ở các viện bảo tàng Âu Châu và Ả Rập… Từ giữa thập niên 1980 cho đến giữa thập niên 1990, những nhà sưu tập này đă vào Việt Nam vào mua hết tất cả, với những giá rất rẻ. Loại đồ gốm Chu Đậu hạng nhất này nhiều món đẹp tuyệt vời, bứt xa đồ nhà Minh, và đẹp không kém ǵ đồ gốm men lam của nhà Thanh bên Tàu. V́ kỹ thuật giản dị nên màu đỏ và màu xanh lục của men tam thái Chu Đậu không bền.
Những món đồ này nằm trong ḷng đất hay ngâm dưới đáy biển đă bị lợt đi hết. Phần lớn những món men tam thái ta thấy bây giờ được người ta tô lại bằng màu men tương tự, chứ hiếm khi là nước men ba màu nguyên thủy. Tuyệt vời nhất là hoa văn trên men trắng chàm và men tam thái. H́nh ảnh thuần túy Việt Nam. Họ vẽ tàu lá chuối, nhánh rong, chim sẻ, chim chích cḥe, tôm, cá bống, cóc, rùa, cọng rau muống, bông hoa cúc, hoa sen. Cũng như các b́nh ấm Việt Nam đời trước, thảng hoặc lắm ta mới thấy một vài b́nh, ấm thời Chu Đậu có quai cầm, c̣n ngoài ra, nơi quai cầm chỉ là một vật trang trí như con rùa, con cá, bông sen… như đồ gốm Việt Nam các thời trước.
__________________
Người sưu tầm đồ cổ yêu vợ nhiều hơn lúc về già
Thứ loại, h́nh dạng đồ gốm Chu Đậu thật phong phú: Bát chân cao, bát chân thấp, tô, đĩa, chén, tước, b́nh, ấm, âu, chậu, lu, hũ, chậu, bát hương, bát trầm, chân đèn, hộp, lọ, b́nh vôi, nghiên mực, có cả nghiên mực h́nh con trâu, con cua, rồi lại c̣n đồ chơi của trẻ em như các h́nh tượng con gà, con cóc, con lợn, người cưỡi ngựa… thôi th́ đủ cả, từ các món đồ dùng trong nhà người dân, trong đ́nh chùa, trong nhà giới trưởng giả, cho đến đồ xuất cảng…
Nhưng xem đồ gốm Chu Đậu mà bỏ qua b́nh tỳ bà th́ thật uổng. Ngoài các cuộc khai quật ở các ḷ gốm cũ ở làng Chu Đậu, loại b́nh này thường được t́m thấy từ các tàu buôn đắm ngoài khơi Hội An - Đà Nẵng. Món này xa lạ với sinh hoạt dân gian Việt Nam. Vậy phải chăng nó chỉ được làm để xuất cảng sang Ả Rập? Người Ả Rập dùng làm ǵ? Đây là những câu hỏi thú vị.
B́nh tỳ bà Chu Đậu
Như tên gọi, b́nh tỳ bà có h́nh dáng giống cây đàn tỳ bà để dựng đứng. Ḿnh thuôn tṛn, cổ nhỏ, miệng loe, thân tṛn ph́nh to, thường có bốn tầng hoa văn, trong ḷng miệng b́nh cũng có h́nh vẽ hoa lá. Tầng thứ nhất ở chung quanh cổ b́nh hoặc vẽ những tàu lá chuối hay h́nh cây lúa; tầng thứ hai khi h́nh hoa cúc, hoa mẫu đơn, khi th́ những chuỗi h́nh xoắn ốc đứng; tầng thứ ba lớn nhất là h́nh chim chích choè, chim sẻ hay là những ô vẽ đợt sóng biển, bên cạnh những ô vẽ h́nh hoa lá; tầng dưới cùng là các ô với những ṿng tṛn h́nh bầu dục chồng lên nhau. B́nh tỳ bà to nhỏ khác nhau, nhưng đa số thường có đường kính đáy độ 9cm, chỗ to nhất ở thân b́nh ph́nh ra vào khoảng 14cm, đường kính ở cổ b́nh là 4cm, và ở vành miệng loe là 8cm, b́nh cao khoảng 30, 32cm.
Tước (hay bôi), là ly uống rượu chân cao. Ngoài những tước men ngọc, màu xanh trong, c̣n có những sáng kiến kỳ diệu như tước thần kim quy. Ẩn trong chân tước này là một quả nổi để lộ h́nh rùa thần kim quy ngồi dưới đáy, khi rượu được rót vào, th́ h́nh thần kim quy từ từ nổi lên theo mực rượu trong ḷng tước.
Đĩa Chu Đậu
Đĩa Chu Đậu rất đẹp, men trắng trong với hoa văn màu chàm. Có những đĩa tam thái rất lớn, đường kính đến khoảng 50cm, nhưng thường thường th́ vào khoảng hơn 25cm đường kính. Hoa văn trong ḷng đĩa thường gồm hai phần. Vành đĩa rộng 5cm, vẽ cành rau, nhánh lá, tâm đĩa vẽ nhiều h́nh rất đẹp: H́nh con công, con vạc, con nghê, cá chép vượt vũ môn, hươu chạy trên đồng cỏ, bên khóm trúc, bờ lúa, đôi chích cḥe, đàn vịt bơi trên hồ sen, trận thủy chiến, cành mai, đóa cúc, đóa mẫu đơn… đường kính độ 15cm. Vành ngoài thành đĩa cũng vẽ những h́nh hoa lá rất chi tiết, hoa văn màu xanh chàm, đĩa lớn thường là men ba màu (Tam Thái). Cùng với b́nh tỳ bà và bát Chu Đậu, đĩa Chu Đậu là những món đẹp và nổi tiếng, được rất nhiều viện bảo tàng và nhà sưu tập quốc tế ưa chuộng. Tiếc thay, cũng chính v́ thế mà không c̣n bao nhiêu món đẹp trong tay người Việt.
Bát Chu Đậu Hoa văn chích choè trong một bát Chu Đậu
Bát Chu Đậu cũng thường là men trắng chàm, đường kính ở miệng bát từ 14 đến 16cm, cao từ 8 đến 10cm. Nhiều loại hoa văn khác nhau. Khi th́ chim sẻ đậu trên cành mai, khi th́ đóa cúc, đóa mẫu đơn, khi th́ lại là khóm phong lan… trong ḷng bát. Vành trong của bát cũng vẽ những ṿng tṛn hoa lá. Hoa văn ở mặt ngoài bát thường gồm hai tầng, phía trên là một vành hoa mai, hoa cúc cao khoảng hơn 3cm, tầng dưới, khoảng 4cm, là những ô có h́nh các ṿng xoắn ốc tiêu biểu của gốm Chu Đậu. Trên vành ngoài miệng bát cũng có những ṿng đồng tâm. Trôn bát không có men đă đành, vành miệng bát cũng thường không có men. Tại sao? Bởi v́ nếu hai món đồ tráng men mà để chạm nhau trong ḷ, khi nung chín, các món này sẽ dính chặt vào nhau, không c̣n dùng được nữa. Ngoài việc dùng con kê (Ṿng tṛn bằng đất mộc để giữa các bát đĩa cho khỏi dính vào nhau, người ta c̣n chừa vành bát đĩa, trôn bát đĩa trơn, không tráng men. Khi xếp vào ḷ nung, cứ lần lượt, miệng cái xấp úp vào miệng cái ngửa, trôn cái ngửa đặt lên trôn cái xấp, thế là chồng được vài ba tầng mà không bị hỏng. Ngoài ra, ta c̣n những bát có vành men cạo ở giữa đáy bát, với đường kính to bằng trôn bát. Đây cũng là một kỹ thuật tuy kém tinh vi nhưng lại thực dụng v́ khi xếp chồng các bát chén này để nung, chúng không bị dính vào nhau.
Trong gốm Chu Đậu, có một món đồ kỳ thú, h́nh dáng nửa đĩa nửa bát, đường kính miệng độ 11cm, đường kính đáy độ 7cm, cái thấp th́ cao gần 4cm, cái cao vào khoảng hơn 6cm. Dùng làm bát th́ trẹt quá, dùng làm đĩa th́ nhỏ quá mà chân lại cao. Chân chén là hoa văn h́nh tṛn đồng tâm, hay là những đám mây bay, vành ngoài, vành trong là những ṿng hoa lá, tâm chén thường có một chữ Hán (chữ Phúc, chữ Chính, chữ Trung, chữ Ngọc, chữ Kim…). Nhiều chén loại này cũng có vành men cạo. Những món này không thấy có trong đồ gốm đời Lư Trần, mà cũng không thấy trong đời sống người Việt. Tới chừng thấy người Ả Rập bây giờ dùng một thứ tương tự để uống trà, ta mới hay đây là đồ dùng chỉ để xuất cảng.
Hộp Chu Đậu
Cũng làm để xuất cảng sang Ả Rập là các hộp phấn và lọ nước hoa. Hộp phấn tṛn, đáy hộp cao 4cm, nắp hộp cao gần 2cm, chỗ ph́nh lớn nhất khoảng 6cm, cũng men trắng trong hoa văn màu chàm, thân hộp thường để trắng, nắp hộp vẽ cảnh ḍng sông, lâu đài hay đóa sen, bông cúc. Lọ nhỏ cũng cao khoảng 6cm, miệng gần 2cm, chỗ ph́nh lớn nhất khoảng hơn 6cm đường kính. Hoa văn trên lọ bao giờ cũng nhiều hơn hoa văn vẽ trên nắp hộp. Vành miệng thường là hoa sen, thân lọ là cành hoa, nhành lá rất mỹ thuật. Ngoài những loại men trắng chàm này, đôi khi ta cũng thấy những hộp lớn hơn, mà thấp. Đường kính của các hộp này vào khoảng 10–12cm, cao độ 4cm. Có cái không hoa văn, nắp khắc nổi h́nh vỏ ṣ, hay bông sen. Có những hộp lớn mà cả nắp lẫn thân hộp cũng có những hoa văn như trên các bát đĩa Chu Đậu khác. Thảng hoặc ta thấy một loại đĩa nhỏ độ 4, 5cm, có chân, trong ḷng không tráng men, nhưng lại có hoa văn rất dày chạm bằng mũi nhọn làm cho ḷng đĩa nhám. Loại này được coi là một thứ đế kê các chén nhỏ. Nhưng thật ra, đây là đĩa của phụ nữ thời xưa dùng mài phấn bôi mặt. Phấn thời đó được làm thành từng thỏi, khi đánh phấn người ta mài phấn vào trong ḷng nhám của đĩa.
Ngoài ra c̣n có rất nhiều hồ rượu hoa văn trắng chàm và hoa văn tam thái. Lại có các hồ rượu h́nh chim vẹt h́nh con gà, các chén uống trà có quai cầm là chim vẹt. Lư hương và chân đèn thời Chu Đậu lớn và đẹp vô cùng. Có những chân đèn cao 70, 80cm, lư hương cao 35, 40cm. Một số lớn có kư tên người làm và đề rơ năm tháng, như vợ chồng Đặng Huyền Thông - Nguyễn Thị Đỉnh, vợ chồng Đỗ Xuân Vi - Lê Thị Ngọc, vợ chồng Bùi Duệ - Lê Thị Cận, Đặng Hữu, Đặng Tính Không, rồi bà họ Đỗ ở Phủ Quốc Oai, bà họ Bùi ở Phủ Nam Sách… Chân đèn gồm hai phần chồng lên nhau, chỗ cắm nến rất lớn, đắp nổi h́nh rồng bốn móng. chứng tỏ đây là đồ dùng trong chùa. Năm tháng đề trên các món này tỏ rơ một giai đoạn lịch sử. Hải Dương là đất tổ của ḍng họ Mạc. Những món đă làm khi nhà Mạc chưa lên (1527) th́ đề niên hiệu vua Lê. Khi nước ta chia hai thành Bắc Triều (nhà Mạc) và Nam Triều (nhà Lê) th́ các niên hiệu trên những món đồ gốm này là niên hiệu của nhà Mạc chứ không phải là niên hiệu nhà Lê nữa. [2] Chân đèn cũng vẫn là men trắng hoa văn màu chàm, thường gồm năm tầng, dưới cùng là vành hoa sen, có khi đắp nổi h́nh những bông cúc, rồi đến thân của chân đèn là hai tầng lớn, tầng dưới là những hoa cúc, tầng trên là h́nh rồng uốn quanh, đắp nổi bằng đất mộc. Đây vẫn là con rồng Việt Nam: ḿnh nhỏ dài, uyển chuyển, vẩy láng, râu dài, mặt hiền chứ không phải con rồng Tàu của đời Nguyễn sau này (mà buồn thay ta vẫn thấy người Việt bây giờ vẽ). Lư hương rất đẹp, nhiều cái h́nh tṛn, rồi h́nh chữ nhật, hoa văn nhiều h́nh chạm, h́nh đắp nổi hoa sen, hoa cúc và những biểu tượng Phật giáo.
Trở ngược ḍng lịch sử, chúng ta cần cải chính một hiểu biết sai lầm rất lớn về văn minh Việt Nam: đó là ảnh hưởng Trung Hoa. Qua Nho học, qua những năm Bắc Thuộc, tất nhiên ta có tiếp nhận những nét đại cương của văn minh Trung Hoa. Tuy nhiên, phần lớn những ảnh hưởng này chỉ ở trong giới quan lại, trưởng giả mà thôi. C̣n quần chúng Việt Nam vẫn giữ nguyên văn minh Việt. Một ngàn năm Bắc thuộc, ông cha ta vẫn c̣n giữ nguyên được tiếng nói dân tộc. Một điểm rơ ràng là trong khi ở Trung Hoa, cho măi đến thế kỷ 20, khi Tôn Dật Tiên thành công trong việc tiêu diệt chế độ quân chủ, th́ trên pháp luật, quyền của người phụ nữ Trung Hoa mới được công nhận. Trước đó họ không có quyền làm chủ cơ sở thương mại, kỹ nghệ, không được làm chủ đất. Nếu chồng chết đi mà chưa có con trai th́ gia tài thuộc về các em trai nhà chồng, chứ họ không được thừa hưởng. Trong khi đó ở nước ta, bộ luật Hồng Đức của vua Lê Thánh Tông đă cho người đàn bà được làm chủ ruộng đất, hiệu buôn… Rồi ta thấy, Đặng Huyền Thông và Nguyễn Thị Đỉnh kư tên chung trên các món đồ họ làm; bà họ Bùi, bà họ Đỗ cũng tự kư tên ḿnh trên các chân hương, chân đèn; tên các bà săi Nguyễn Thị Liên, Vũ Thị Dương cũng được viết lên các món họ đặt cho chùa… Việc coi trọng phụ nữ ở Việt Nam không phải đến đời Lê mới có. Từ thời thượng cổ, qua thời Hán thuộc, mặc cho người Tàu, mặc Tích Quang, mặc Nhâm Diên, người Việt vẫn cứ coi trọng người đàn bà, người mẹ. Bà Trưng, Bà Triệu dấy binh, cầm quân cầm tướng, có ai bảo là không được đâu? Mấy ông anh hùng bên Tàu bên Nhật t́m đỏ mắt cũng không bao giờ có những trang sử oanh liệt như thế. Rồi hăy đọc vài câu ca dao như: Mẹ em tham thúng xôi ṿ – Tham con lợn béo tham ṿ rượu tăm…. Bố đâu rồi, sao mẹ lại quyết định một ḿnh, quyết định tối hậu như thế? Bởi v́ người đàn bà Việt mới thực sự là người cầm cân nảy mực cho các sinh hoạt trong gia đ́nh. V́ thế mà những ông Tú Xương tha hồ rong chơi, khi các bà Tú Xương đă lo toan tất cả mọi thứ, từ tiền nuôi con, từ tiền cho chồng uống rượu, cho đến tiền chồng đi hát cô đầu…
Khởi suốt những ngàn năm lịch sử phát triển dân tộc, đến Chu Đậu, đồ gốm Việt Nam trở nên những món hàng được ưa chuộng từ trong nước đến ngoài thị trường quốc tế. Nào xuất cảng sang Nhật Bản, Phi Luật Tân, Nam Dương, Mă Lai, Thái Lan cho đến những nước Ả Rập xa xôi. Lại cũng được ưa chuộng, lưu giữ trong các nhà quư tộc Âu Châu. Năm 1590, Duke of Florence (tạm dịch: Công tước tỉnh Florence) đă tặng cho Prince-Elector of Saxony (tạm dịch: Hoàng thân vùng Saxony) một b́nh Chu Đậu men trắng hoa lam h́nh tṛn, đường kính 25cm, vẽ hoa sen và hoa mẫu đơn. B́nh này hiện được chưng trong viện bảo tàng Johannaun ở Thụy Điển. Người Nhật rất hănh diện về Trà đạo của họ, nhưng ít người Việt biết rằng Trà đạo chỉ mới xuất hiện ở Nhật Bản từ thế kỷ 16. [3] Vào thời đó, họ chưa biết làm đồ gốm. Các ấm, bát uống trà của Trà đạo Nhật chính là những món đồ gốm Chu Đậu nhập cảng từ Việt Nam qua. Những tổ sư của Trà đạo Nhật Bản quư chuộng đồ Chu Đậu hơn đồ Trung Hoa và Đại Hàn. Thời đó, chỉ có những gia đ́nh quư tộc, những tổ sư Trà đạo danh tiếng như Takeno Joo (1502-1555), Sen No Rikyu (1522-1591), Toyotomi Hideyoshi (1537-1598) Tokugawa Ieyasu (1542-1616)… mới sắm nổi đồ Chu Đậu, mà ngày nay con cháu họ vẫn giữ làm của gia bảo là vài ví dụ điển h́nh.
Vậy th́ tại sao làng Chu Đậu không c̣n ai biết làm những món đó nữa? Tại sao hai chú cháu họ Vương dời qua Bát Tràng (Hà Nội) cũng không làm được những thứ đồ tuyệt vời này?
Người ta cho rằng vào thế kỷ 17, sau khi vua nhà Minh bỏ lệnh cấm người Tàu buôn bán với nước ngoài, các đồ gốm Việt Nam đă không cạnh tranh nổi và tàn lụi. Chúng tôi bác bỏ giả thuyết này. Bởi cứ xem những món đồ Chu Đậu trong các viện bảo tàng ở Châu Âu, trong các bộ sưu tập lừng danh, th́ đồ gốm ta và đồ gốm Tàu chưa chắc ai đă hơn được ai. Trên trường thương măi, không ai có thể trong một lúc mà đột ngột mất trọn tất cả thị trường vốn lớn mạnh của ḿnh như thế được. Vả lại, mất thị trường Ả Rập, thị trường Á Châu Thái B́nh Dương, th́ vẫn c̣n thị trường nội địa. Đ́nh chùa vẫn cần lư hương, chân đèn, người dân vẫn cần bát đĩa. Không làm nhiều th́ làm ít, lẽ đâu cả làng phải đổi sang nghề dệt chiếu. Lẽ đâu cả phủ Nam Sách chỉ c̣n người làm nồi đất không men. Lẽ đâu khi chú cháu Vương Quốc Doanh dời về Bát Tràng lại không tiếp tục làm được đồ gốm đẹp như lúc c̣n ở Chu Đậu. [4]
Nh́n vào những năm tháng cuối cùng của thế kỷ 16, chúng tôi nghĩ rằng: Đồ gốm Chu Đậu bị bức tử. Kẻ bức tử đồ gốm Chu Đậu là Trịnh Tùng, người thắng cuộc tranh giành quyền lực với nhà Mạc.
Khi viết 13 chữ “Thái Ḥa bát niên, Nam Sách phủ…” lên cái b́nh Tokapi Saray, bà nghệ sĩ họ Bùi ấy đă cho ta biết đó là năm 1450, đời vua Lê Nhân Tông. [5] Đến khi vợ chồng Đặng Huyền Thông - Lê Thị Đỉnh làm những b́nh hương, những chân đèn (và tất nhiên là nhiều b́nh, ấm, đĩa, bát tuyệt vời khác), ta thấy niên hiệu của nhà Lê (Nam triều) không c̣n được họ dùng nữa, mà thay vào đó là niên hiệu của nhà Mạc (Bắc triều), như Diên Thành tam niên của Mạc Mậu Hợp [6] , Diên Thành thứ năm [7] , Hưng Trị tam niên [8] …
Tỉnh Hải Dương với nhiều sông nước bao quanh như các sông Thái B́nh, sông Thương, sông Luộc, sông Kinh Thầy, sông Kẻ Sặt, sông Đ̣ Đáy…lại cũng không xa sông Hồng; Hải Dương là quê hương của ḍng họ Mạc. Hải Dương nằm giữa vùng đồng bằng và vùng cao nguyên, giữa Hà Nội và Hải Pḥng, đă từng là nơi có giá trị chiến thuật rất cao. Nào Đông Triều (nơi nhà Trần dùng làm cứ địa khi chống quân Nguyên), nào Băi Sậy (căn cứ của Hoàng Hoa Thám chống Pháp), nào Cổ Am (nơi Quốc dân Đảng của Nguyễn Thái Học từng chống nhau kịch liệt với quân đội Pháp)… Từ đây tiến đánh Thăng Long cũng dễ, rút về núi rừng Lạng Sơn, Bắc Giang, Thái Nguyên hay về vùng bờ biển Hải Pḥng, Thái B́nh lại rất tiện. Thương măi và nông nghiệp nơi đây luôn phồn thịnh với sông nước, hàng hóa được chở thẳng lên Thăng Long hay xuôi xuống Phố Hiến (để xuất cảng) vừa tiện, vừa gần.
Trong Đại Việt sử kư toàn thư, từ bản khắc in năm 1697, các sử thần đời trước đă cho ta rất nhiều chi tiết về giai đoạn máu lửa thảm khốc ấy.
* Từ năm 1504 nhà Lê chỉ c̣n những ông vua trẻ tuổi, bất tài, hoang dâm, tàn ác, kể từ Lê Uy Mục (vua quỷ) Lê Tương Dực (vua lợn)… Xă hội suy đồi, loạn lạc, giặc giă triền miên, dân t́nh nghèo đói. Mạc Đăng Dung được coi là kẻ có thể ổn định trật tự xă hội, phát triển đất nước, được phần lớn triều đ́nh và dân chúng hướng theo. Mạc Đăng Dung chiếm ngôi của nhà Lê năm 1527.
* Trong số người không theo họ Mạc có Điện tiền Tướng quân Nguyễn Kim. Nguyễn Kim bỏ sang Lào nương náu, t́m cách chống lại họ Mạc. Măi gần mười năm sau, năm 1533, Nguyễn Kim mới t́m được người con út của Chiêu Tông là Lê Duy Ninh, Kim lập Duy Ninh lên làm vua là Trang Tông, đóng ở Sầm Châu bên Lào, mưu việc khôi phục nhà Lê. Năm 1543, Nguyễn Kim đưa được Lê Trang Tông về Tây Kinh (Thanh Hóa). Đến năm 1545 Nguyễn Kim bị nhà Mạc cho người đánh thuốc độc chết, binh quyền về tay con rể là Trịnh Kiểm. Nước ta chia làm hai phần, Nam Triều ở Tây Kinh của nhà Lê-Trịnh, Bắc Triều ở Đông Kinh của nhà Mạc. Hai bên đánh nhau rất nhiều lần, suốt từ năm 1533 đến hết thế kỷ 16.
* Mạc Đăng Dung lên ngôi năm 1527, truyền qua các đời vua Mạc Đăng Doanh, Mạc Phúc Hải, Mạc Phúc Nguyên; Rồi Mạc Mậu Hợp lên nối ngôi vào năm 1561. Lúc này binh quyền của Nam Triều (nhà Lê) thuôc trọn tay Trịnh Tùng. Từ năm 1533 đến năm 1623, nhà Mạc và nhà Trịnh (dưới chiêu bài phù Lê) đánh nhau không ngừng. Lúc đầu chiến trận xảy ra ở vùng Thanh Hóa, Nghệ An, nơi vua Lê và chúa Trịnh đồn trú, nhưng kể từ năm 1587, Trịnh Tùng bắt đầu đem quân ra đánh vào sâu hơn trong lănh thổ nhà Mạc. Trịnh Tùng chiếm được Thăng Long năm 1591, Mạc Mậu Hợp rút về Hải Dương. V́ địa thế chiến lược quan trọng, phủ Nam Sách tỉnh Hải Dương trở nên chiến trường đẫm máu giữa Trịnh Tùng và nhà Mạc suốt từ năm 1533 đến 1623. Chỉ kể riêng từ năm 1592 đến năm 1601, đă có đến 12 trận đánh đẫm máu ở nơi đây. Cứ hễ quân chúa Trịnh đuổi được nhà Mạc, rồi rút đại quân đi th́ dân địa phương lại nổi lên theo nhà Mạc để chống lại chúa Trịnh. Mỗi lần quay lại chiếm Hải Dương, quan quân họ Trịnh lại trả thù, tàn sát dân cư không tiếc tay, lần nào cũng giết cả ngàn người. Cùng với những người theo họ Mạc, các ḍng họ chuyên về gốm Chu Đậu bị quan quân nhà Trịnh thanh toán hết cả.
V́ thế chúng tôi cho rằng Trịnh Tùng đă bức tử đồ gốm Chu Đậu trong những lần ông cho quan binh tàn sát dân vùng Nam Sách để trả thù việc họ đă dám theo vua quan nhà Mạc.
Nói như thế có người sẽ vặn lại rằng: Chẳng lẽ suốt từ thế kỷ 17 đến bây giờ chúng ta không làm đồ gốm sao? Thế c̣n Bát Tràng, Thọ Xương, Thanh Hóa, Biên Ḥa, B́nh Dương, c̣n biết bao nơi làm bát đĩa nồi niêu khác? Chẳng lẽ người Việt không c̣n dùng đồ gốm nữa sao?
Ông cha chúng ta vẫn c̣n tiếp tục làm đồ gốm để dùng hàng ngày. Tuy nhiên, nền nghệ thuật và kỹ thuật cao của đồ gốm Việt Nam từ các thế kỷ trước, từ đời Lư, đời Trần, đời Lê, và phát triển đến mức tột đỉnh để kết tinh vào đồ gốm Chu Đậu đă biến mất. C̣n lại chỉ là những ḷ gốm sản xuất các món đồ tầm thường, có hay không có tráng men (đồ sành). Từ thời các chúa Trịnh, từ các đời vua nhà Nguyễn, triều đ́nh, quan lại và cả dân gian đă dùng những món đồ đặt làm đồ hay mua từ các ḷ gốm Trung Hoa, đă nhập cảng các món đồ sứ từ Anh Quốc [9] , và sau này là từ Nhật Bản. Nền kỹ thuật đồ gốm ở B́nh Dương, ở Biên Ḥa… sản xuất ra những món chúng ta vẫn dùng hàng ngày, nhưng đó là loại đồ gốm mà những người Tàu dưới sự lănh đạo của Trần Thắng Tài và Dương Ngạn Địch sang nước ta tỵ nạn, khi quê hương của họ bị người Măn Châu chiếm năm 1644 khai lập, chứ không phải là sự tiếp nối nghệ thuật và kỹ thuật của đồ gốm dân tộc nữa.
Dân số của tỉnh Hải Dương, của phủ Nam Sách thời ấy được bao nhiêu? Bao nhiêu người là những tay có học và có tài làm đồ gốm như gia đ́nh họ Đặng, họ Bùi, họ Đỗ, họ Vương…? Cuộc chiến đă làm xáo trộn nếp sinh hoạt nghệ thuật, kỹ thuật và thương măi của họ như thế nào? Tuy nhiên dù loạn lạc, binh đao dài lâu hay đau thương thế nào, sau khi chúa Trịnh đă toàn thắng, những người làm đồ gốm cũng sản xuất trở lại những món đồ theo sự truyền dạy của ông cha chứ? Thế nhưng cả làng Chu Đậu quay ra dệt chiếu, cả phủ Nam Sách chỉ c̣n đôi ba chỗ làm nồi đất niêu đất không men, dân vùng đó không c̣n gia phả, kư ức ǵ về thời cha ông họ là những nghệ nhân tuyệt vời của đồ gốm Việt! Ruộng vườn đă vùi lấp dấu tích của các ḷ gốm xưa. Trong dân cư Nam Sách làm nghề dệt chiếu sau này, có bao nhiêu phần là người các nơi khác đến cư ngụ sau khi quan quân nhà Trịnh đă bách hại dân địa phương, và v́ thế không có liên hệ ǵ đến nghệ thuật gốm Chu Đậu?
Bảo rằng v́ vào cuối thế kỷ 16 vua nhà Minh bỏ lệnh cấm người Tàu buôn bán với nước ngoài [10] , cho nên đồ gốm ta bị mất thị trường và tàn lụi, là một lập luận sai và yếu. Bởi v́ các món đồ gốm Chu Đậu lưu giữ ở Âu Châu và ở Ả Rập có phẩm chất rất cao, men rất trắng, rất mịn, hoa văn rất linh động, sắc sảo,người ta đă từng nh́n lầm ra là đồ Trung Hoa. Đồ gốm Chu Đậu vốn rất được ưa chuộng ở thị trường Nhật Bản, thị trường Đông Nam Á, và thị trường Ả Rập. Không ai có thể mất trọn vẹn tất cả các thị trường một cách đột ngột như thế được. Vả lại chúng ta vẫn c̣n thị trường quốc nội nữa chứ, tại sao lại hoàn toàn ngưng không làm các món đồ men trắng hoa văn mầu lam vốn rất được ưa chuộng này nữa? Thiên tai, lụt lội chăng? Đại Việt sử kư toàn thư thường kê rơ những năm tháng có lụt lột, thiên tai, mất mùa, nhưng không hề nói ǵ để cho ta có thể suy ra rằng dân Hải Dương thời ấy bị thiệt hại nặng v́ thiên tai. Hay là đất sét trắng (kaolin) ở nơi đây đă cạn, nên đồ gốm tuyệt chủng? Không thể như thế được, bởi v́ ngoài các mỏ kaolin địa phương như ở bờ sông Kinh Thầy, ở Trúc Thôn, Hoàng Thạch gốm Chu Đậu c̣n làm bằng đất mua từ Hố Lao, Đông Triều (cách đó 30km đường sông), mà những nơi này hiện nay vẫn c̣n được khai thác.
Đích thực Trịnh Tùng đă bức tử đồ gốm Chu Đậu trong những lần ông cho quan binh tàn sát dân vùng Nam Sách để trả thù việc họ đă dám theo vua quan nhà Mạc. Chắc rằng khi Trịnh Tùng giết những người dân vùng Hải Dương chống ông, ông đă giết đi hết những người làm đồ gốm men trắng chàm này của văn hóa Việt Nam. Việc người thắng bạo hành, tru diệt tàn dư của kẻ bại vẫn là những chuyện xảy ra thường xuyên trong lịch sử nước nhà. Chắc rằng cuộc tàn sát phải ghê gớm và toàn vẹn lắm, cho nên chẳng c̣n ai sống sót mà trốn đi mang nghề nghiệp ông cha đến nơi khác làm ăn, hay dù có người thoát đi được nơi khác (như chú cháu nhà họ Vương đến Bát Tràng) th́ họ cũng v́ sợ lộ tông tích mà không làm, không truyền nghề cũ nữa. Chúng tôi nghĩ rằng đồ gốm nhà Minh nhà Thanh đă không thắng được đồ gốm Việt Nam trên thị trường mà chỉ là điền khuyết vào phần thị trường mà đồ gốm Chu Đậu đă bỏ trống thôi. Than ôi! Một nền mỹ thuật và kỹ thuật đặc biệt, tuyệt đẹp của ông cha ta đă không c̣n được tiếp tục phát triển đến những mức độ cao hơn nữa mà lại biến mất rất ngậm ngùi.
Năm 1644 người Măn Châu vào chiếm Trung Hoa, diệt nhà Minh, lập nên nhà Thanh. Đồ gốm Trung Hoa cũng theo thời gian mà phát triển rực rỡ. Cái màu xanh lam đục mờ, đă trở thành màu xanh lam sáng biếc, thành nét vẽ thanh thoát trở nên đặc điểm của đồ gốm Trung Hoa. Nơi quê ta, thay v́ ông cha ta phát triển rực rỡ được nghệ thuật đồ gốm tuyệt vời của ḿnh song song với họ, th́ đau đớn thay, cả nền nghệ thuật ấy bị bức tử, đến nỗi con cháu sau này không c̣n biết ǵ về nền nghệ thuật ấy nữa. Để rồi sau đó, chính Trịnh Sâm, và triều đ́nh nhà Nguyễn, rồi giới quyền quư, kẻ có tiền phải đặt phải mua b́nh ấm bát đĩa từ những ḷ gốm của nhà Thanh bên Tàu! Nào đồ “Nội Phủ”, nào đồ “Khánh Xuân”, nào đồ “Mai Hạc”, đồ “chữ nhật”, đồ “Ngoạn Ngọc”, đồ “Trân Ngọc”, đồ “Nhă Ngọc”… Mà lúc ấy đồ gốm Việt Nam đă chết tức tưởi rồi! Và sau đó, từ một xă hội không biết làm đồ gốm, Nhật Bản đă học, đă phát triển mạnh và trở nên bá chủ của thị trường đồ sứ trên toàn thế giới.
Ôi! Tại sao lịch sử lại khắc nghiệt với người Việt Nam như thế! Tranh bá đồ vương, chiến tranh đă bao năm, đă bao lần làm cho sức sống dân tộc thui chột, làm cho nền văn hóa tuyệt vời của người Việt bị mất đi những cơ hội tiếp tục đơm hoa kết trái, khoe mặt, khoe tài cùng bốn biển năm châu, và có thể trở nên một cường quốc kinh tế, thương măi, văn hóa, nghệ thuật… Ôi! Sự giành giựt triều đ́nh, giành giựt quyền lực của những kẻ tham tàn mù quáng đă làm cho nước ta trở nên một xă hội nhược tiểu chậm tiến về nhiều mặt. Chúng tôi lại nghĩ thêm rằng, ngày nay, nếu chúng ta không nghiên cứu, không t́m hiểu và không phổ biến văn hóa thuần Việt, nếu chúng ta cứ tiếp tục xưng tụng những sai lầm, thiếu sót về lịch sử, về văn hóa ông cha, chúng ta cũng đă vô t́nh góp phần hủy diệt di sản văn hóa thuần Việt, như họ Trịnh đă lầm lỗi trước đây vậy.
__________________
Người sưu tầm đồ cổ yêu vợ nhiều hơn lúc về già
The Following User Says Thank You to admin For This Useful Post: