1. 1. H́nh thức tiền cổ
Mặt trước Ngoại trừ tiền
giấy phát hành dưới thời
Hồ Quư Ly, tiền cổ của Việt Nam đều được đúc bằng
kim loại dạng h́nh tṛn với lỗ vuông ở chính giữa.
Mặt chính của đồng tiền có các
chữ Hán mà ít nhất có hai chữ (vị trí 1 và 2) thường là
niên hiệu của nhà vua và hai chữ sau (vị trí 3 và 4) dùng để chỉ loại tiền. Cũng có thể có loại tiền không có hai chữ này. Vị trí của bốn chữ đôi khi viết theo chiều thuận của kim đồng hồ và đôi khi viết theo kiểu chéo (Xem phần: "Tên gọi tiền cổ" bên dưới).

Mặt trước của đồng tiền, viền tṛn của ŕa tiền và viền vuông của lỗ tiền thường được viền nổi để giảm bớt sự hao ṃn của chữ đúc và việc mài dũa mặt tiền để lấy bớt chất đồng của kẻ gian.
Mặt sau Mặt sau của tiền thường không có chữ, tuy nhiên một số nhỏ có chữ để chỉ một trong các ư nghĩa sau:
- Triều đại nhà vua, như chữ Đinh của tiền Thái B́nh Hưng Bảo, chữ Lê của tiền Thiên Phúc Trấn Bảo của nhà Tiền Lê, chữ Trần của tiền Thiệu Phong thông bảo của vua Trần Dụ Tông.
- hoặc năm phát hành của tiền, như Nhâm Tuất của tiền Cảnh Hưng Thông Bảo để chỉ tiền đúc trong năm Nhâm Tuất 1742, như chữ Tỵ của tiền Vĩnh Thịnh Thông Bảo để chỉ năm đúc Qúy Tỵ 1713.
- hoặc ḷng yêu qúy của vua như chữ Càn Vương, để chỉ Càn Vương Lư Nhật Trung là con vua Lư Thái Tông, trên tiền Thiên Cảm Thông Bảo của Lư Thái Tông.
- hoặc nơi đúc đồng tiền như Hà Nội hoặc Sơn Tây trên tiền Tự Đức Thông bảo, như chữ Công cho Bộ Công - một trong 6 Bộ - trên tiền Quang Trung Thông Bảo
- hoặc một chữ có ư nghĩa tốt đẹp như chữ Chính, để chỉ đến chính pháp công bằng, trên tiền Quang Trung Thông Bảo
- hoặc mang những kư hiệu đặc biệt đánh dấu đợt tiền đúc, như 4 h́nh cong úp vào hay vểnh ra từ lỗ vuông của tiền Quang Trung Thông Bảo, như 1 dấu chấm và 1 dấu h́nh cong tượng trưng cho 2 chữ Nhật Nguyệt, tức chữ Minh, để tưởng nhớ nhà Minh, trên tiền Thái B́nh Thông Bảo do Mạc Thiên Tứ đúc ở Hà Tiên
- hoặc ghi trọng lượng của tiền như chữ Thất Phân trên tiền Gia Long Thông Bảo
- hoặc ghi trị giá ấn định của tiền như chữ Lục Văn trên tiền Tự Đức Thông Bảo.
Kích thước và trọng lượng Các đồng tiền cổ có
đường kính trung b́nh từ 22mm- 24mm, những đồng lớn có đường kính 25 - 26mm (như tiền Thành Thái thông bảo) và những đồng nhỏ 18 - 20mm (như đồng Bảo Đại thông bảo).
Kích thước của lỗ vuông trung b́nh vào khoảng 5 mm, nhưng cũng có những đồng tiền có lỗ vuông to đến 7 mm như trường hợp tiền ngoại thương Trường Kỳ tiêu dùng ở Hội An vào
thế kỷ 17. Chiều dày của tiền cổ thường vào khoảng 0,5mm, ngoại lệ tiền
Đoan Khánh thông bảo của
Lê Uy Mục dày đến 1 mm.
Đường kính và bề dầy là hai yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến trọng lượng của đồng tiền. Những đồng tiền có kích thước và trọng lượng cân đối vừa đủ, không quá dầy nặng sẽ dễ dàng trong việc tiêu dùng. Tiền quá nhẹ mỏng th́ dễ gẫy vỡ. Với kích thước trung b́nh như trên, trọng lượng khoảng 3,5 - 4 gram là vừa phải. Tiền
Đoan Khánh Thông Bảo của
Lê Uy Mục được coi là ngoại cỡ so với các đồng tiền khác, vừa dầy vừa to, có đồng nặng đến 6,2 gram.
1. 2. Tên gọi tiền cổ
Hai chữ ở vị trí 1 và 2 trên đồng tiền thường là
niên hiệu của vị vua cho đúc tiền. Hai chữ này do đó thường phản ánh thời gian tiền được đúc.
Các chữ thứ 3 và thứ 4 trên đồng tiền có ư nghĩa, nguồn gốc khác nhau, trong đó có những chữ noi theo cách gọi của tiền cổ do các triều đại Trung Quốc phát hành; hoặc do hoàn cảnh, sự kiện lịch sử đương thời; hoặc đơn giản chỉ là hàm ư nhấn mạnh giá trị đồng tiền:
- Thông bảo 通寶 là chữ thường thấy nhất trên các đồng tiền, nghĩa là đồng tiền lưu hành thông dụng. Hai chữ này xuất hiện đầu tiên trong tiền Khai Nguyên Thông Bảo do Đường Cao Tổ của Trung Quốc đúc năm 621 [2].
- Nguyên bảo 元寶: tiền mới đầu tiên
- Đại bảo 大寶: tiền có giá trị lớn
Ngoài những chữ trên hay được dùng, c̣n có những chữ khác đúc trên tiền cổ là:
- Vĩnh bảo 永寶: tiền lưu thông măi măi
- Chí bảo 至寶: tiền cao quư nhất. Đồng tiền đầu tiên dùng hai chữ "chí bảo" là tiền Gia Định Chí Bảo của Tống Ninh Tông (1208-1224).
- Chính bảo 正寶: tiền chính thống. Đồng tiền đầu tiên dùng hai chữ "chính bảo" là tiền Gia Định Chính Bảo của Tống Ninh Tông (1208-1224).
- Cự bảo 巨寶: tiền có giá trị to
- Trọng Bảo 重寶: Đồng tiền trọng yếu. Đồng tiền đầu tiên dùng hai chữ "trọng bảo" là tiền Càn Nguyên Trọng Bảo của Đường Túc Tông (758-759).
- Thuận Bảo 順寶: tiền của vua Lê Hiển Tông, kỷ niệm dịp chiếm đóng Thuận Hóa và lấy súng đồng của chúa Nguyễn ở Thuận Hoá mà đúc thành tiền...
- vv...
1. 3. Đơn vị và mệnh giá
Đơn vị đếm Đơn vị đếm cơ bản của tiền cổ Việt Nam
quan,
tiền và
đồng. Theo đó "đồng" là đơn vị đếm nhỏ nhất. Một quan luôn bằng 10 tiền. C̣n một tiền th́ bằng từ 60 đồng đến 100 đồng tùy thời.
- Đời vua Trần Thái Tông, vua xuống chỉ là 1 tiền ăn 69 đồng cho dân gian mua bán với nhau, nhưng đối với việc công th́ 1 tiền ăn 70 đồng.
- Đến thời Lê Lợi xưng vương, vua đă ấn định 1 tiền ăn 50 đồng.
- Vào thời Nam Bắc triều, chiến tranh đă khiến đồng tiền được đúc nhỏ dần so với những đồng tiền cổ đời trước. Tiền nhỏ bấy giờ gọi là tiền gián, c̣n tiền cổ to gọi là tiền quư. Và 1 quan tiền quư vẫn ăn ngang 600 đồng, nhưng 1 quan tiền gián chỉ ăn 360 đồng.
- Thời Hậu Lê: 1 tiền là 60 đồng; do đó cứ 600 đồng xu tṛn lỗ vuông là 1 quan. Tiền được xâu vào một dây dài, cột hai đầu thành một xâu mà khoác trên vai khi đi mua bán.
- Đời nhà Nguyên, người Việt mua bán ở biên giới Trung Quốc th́ dùng đơn vị 1 tiền ăn 67 đồng.
- Đơn vị tiền tệ ở Đại Việt thay đổi khi tiền kẽm bắt đầu xuất hiện vào thế kỷ 18 bởi nhiều lư do [3] Một đồng tiền đồng ăn 3 đồng tiền kẽm.
- Khi vua Gia Long thành lập nhà Nguyễn, đă cho đúc cả hai thứ tiền đồng và tiền kẽm. Giá trị tiền kẽm lúc ban đầu không khác biệt tiền đồng, nhưng dần dần tiền đồng ăn 2 tiền kẽm, rồi 3, rồi 6, cho đến đời vua Thành Thái, tiền Thành Thái Thông Bảo Thập Văn ăn ngang 10 tiền kẽm.[4].
Từ thời
Pháp thuộc, ở Việt Nam bắt đầu xuất hiện các
đơn vị đếm là
hào,
xu,
chinh và
cắc. Tiền Việt Nam kể từ sau khi đất nước giành độc lập có các đơn vị đếm là
đồng,
hào và
xu. Một đồng bằng mười hào. Một hào bằng mười xu. Hiện nay, tiền giấy và tiền kim loại chỉ được phát hành với một đơn vị đếm duy nhất là
đồng.
Mệnh giá Tiền cổ thường chỉ có một mệnh giá, đó là 1 đồng. Một tiền thường là một xâu các 1 đồng. Và một quan thường là mười xâu một tiền. Tiền giấy do nhà Hồ có nhiều mệnh giá khác nhau. Mệnh giá nhỏ nhất là 10 đồng. Mệnh giá lớn nhất là 1 quan. Tiền kim loại từ thời nhà Nguyễn cũng bắt đầu có các mệnh giá khác nhau. Tiền Việt Nam hiện nay loại có mệnh giá thấp nhất là 200 đồng (tiền kim loại), loại có mệnh giá cao nhất là 500.000 đồng (
tiền giấy).
1. 4. Chất liệu
Tiền cổ Việt Nam có nhiều loại:
- Tiền đúc bằng đồng: là kim loại thông dụng nhất dùng đúc hầu hết tiền cổ của Việt Nam. Đây là một hợp kim của đồng gồm thêm kền, sắt, thiếc mà thành phần rất thay đổi bởi kỹ thuật luyện kim thời xa xưa chưa được tiêu chuẩn hóa. Tác giả Tạ Chí Đại Trường đă trích dẫn một bảng kết quả phân tích thành phần hóa học của tiền Trị B́nh Nguyên Bảo gồm 63,6 % đồng, 21 % ch́, 0,14% thiếc và 0,27% sắt[5]. Đến thời nhà Nguyễn, nhờ kiến thức phát triển hơn, đồng dùng đúc tiền chỉ gồm đồng và kẽm theo tỷ lệ 6/4, 7/3 hay 8/2.[6]
- Tiền đúc bằng kẽm: kẽm là kim loại thông dụng thứ nh́ sau đồng được dùng để đúc tiền, nhất là từ thế kỷ 17 trở về sau. Như hợp kim đúc tiền đồng, người ta xử dụng những tạp chất có thành phần kẽm khá cao, gọi chung là ô diên mà đúc tiền. Lacroix Désiré dẫn từ Agenda du chimiste của Ad Wurtz cho thấy thứ kẽm tạp này chứa 55% đồng, 23 % kền, 17 % kẽm, 3% sắt và 2% thiếc. [7] Tương tự tiền đồng, triều đ́nh nhà Nguyễn cũng biết tinh luyện kẽm hoặc mua kẽm nguyên chất từ nước ngoài mà đúc tiền.
- Tiền đúc bằng ch́: ch́ là kim loại mềm được pha thêm kim loại khác để có một hợp kim đúc tiền ch́. Loại tiền có lượng ch́ cao khá mềm, đặt nhẹ giữa hai ngón tay, ấn nhẹ là đồng tiền có thể bị bẻ cong. Hiện nay, hơn 400 mẫu tiền ch́ Việt Nam đă được nhận diện nhưng nguồn gốc của thứ tiền này vẫn c̣n là một nghi vấn chưa được giải đáp thỏa đáng.
- Tiền đúc bằng sắt: Theo Đại Việt Sử kư Toàn thư, khi Mạc Đăng Dung lấy ngôi vua của nhà Hậu Lê, sử thần cho rằng nhà Mạc không được ḷng trời nên đúc tiền đồng không thành mà phải đúc tiền sắt để tiêu dùng. Đó là lần đầu tiên tiền sắt được nhắc đến. Tuy vậy, di chỉ khảo cổ hiện đại cho thấy không có tiền sắt Minh Đức Thông Bảo của nhà Mạc, mà chỉ thấy tiền đồng. Và trong tiền cổ Việt Nam có một số mẫu tiền đồng nhưng lại rỉ sét đỏ khá bất thường của sắt, nhất là tiền Hồng Đức Thông Bảo và Minh Đức Thông Bảo. Các nhà nghiên cứu đặt giả thiết, có thể vào lúc đó, hợp kim đồng có chứa nhiều sắt hơn lúc b́nh thường được sử dụng, v́ ngẫu nhiên hoặc v́ cho dễ đúc, chứ không có loại tiền sắt.
- Tiền đúc bằng vàng: Thường là tiền dùng để ban thưởng của vua
- Tiền đúc bằng bạc: Thường là tiền dùng để ban thưởng của vua
- Tiền làm bằng giấy: của nhà Hồ phát hành