Trở lại   Diễn Đàn Chơi Đồ Cổ - Vietnam Antique Forum > Kiến thức đồ cổ > ẤN PHẨM - TÀI LIỆU CỔ > Download Sách Cổ


Download Sách Cổ Sách cổ sưu tầm có thể chuyển thể thành sách điện tử, mục đích giúp cho những người chơi đồ cổ yêu thêm đồ cổ, thương đồ cổ cũng giống Thương Vợ

Thông tin & Thông báo
Thiết kế web shop đồ cổ miễn phí
Tạo bộ sưu tập đồ cổ và upload h́nh ảnh
Thiết kế web miễn phí - 123thietkeweb.net
Để h́nh ảnh của bạn xuất hiện cùng với tiêu đề bài viết

Trả lời
 
LinkBack Công cụ bài viết Kiểu hiển thị
Cũ 25-06-2009, 08:50 PM   #1 (permalink)
Administrator
Xem bộ sưu tập
 
Tham gia ngày: Jun 2009
Bài gửi: 193
Thanks: 1
Thanked 32 Times in 26 Posts
Mặc định Hơn nửa đời hư - Sách của cụ Vương Hồng Sển

Hơn nửa đời hư
Hiểu theo trong Nam Hơn nửa đời hư, có nghĩa là hơn phân nửa đời người, chưa làm ǵ nên thân. Giọng hàng tôm, giặm mắm muối, rơ ràng hơn; đă quá nửa đời người, hổng nên thân ǵ ráo trọi!
Hơn nửa đời, biết làm sao mà định? Bốn mươi năm mươi cũng được, quá sáu bảy mươi cũng biết đâu chừng? Thôi th́ để đó, khi đập nắp quan sẽ hiểu.
Chuyện tôi viết, bắt đầu từ năm sanh (1902) đến năm đi dạy học ở Huế về (1967), thấy nhộn quá nên ở nhà, chớ dư sức hoạt động. Con đường đă trải, cũng dài khá bộn, kể tuổi đầu cho đến nay đă trên bảy mươi, như vậy lẽ đáng nên gọi, nếu mai nầy chết, là “trọn một đời hư”, mới phải.
Như con bạc trúng một canh bài về khuya, đủ gỡ vốn lời, v́ “nên” được vào mấy ngày chót vậy xin cho tôi ghi “Hơn nửa đời hư” làm nhan sách.
Tưởng “viết để lại cho con là Bảo” nhưng nay in thành sách có nhiều mắt cùng xem, như vậy “Hơn nửa đời hư” là phải.
Ngoài trời mưa, đêm vẫn lạnh. Gió mướt tỉ tê, mắt già mi ướt. Tôi chuốc đôi hài nhung, mặc thêm một lớp áo ấm, lại ngồi bàn viết:
“Đêm nay gió bấc mưa dầm,
Đèn khuya một bóng, bóng lầm với đêm”
Dưới Mái Tây, ngọn đèn điện cứ reo vui với mấy con thiêu thân tự sát. Song cửa mở sương che mất khu phố mấy từng cao.
Con mèo tam thể đi ăn vụng bị hàng xóm chém tét móng chân trước, đang nằm rên h́ h́ trên đầu tủ sách. Vừa viết đến đây, tôi đọc lớn. Con mèo nhướng mắt tưởng tôi ngỏ lời an ủi, nên hoà âm mấy tiếng hừ hừ, tợ chiếc ấm gần sôi. Bỗng tôi đổi sang giọng lớn, không mấy êm tai, tôi thấy vành tai con miêu đang xụ lại vành lên, trán con miêu nhăn nhăn, tam thể tựa hồ bụng bảo dạ: “Lăo Vương nầy chướng, chúng cho về hưu cũng phải: Lăo lai nhai những ǵ rỗng tuếch, chẳng bù má Năm, nói những lời đáng giá, hứa cho ăn th́ no bụng đến phát ách, hăm đánh đ̣n thù nhừ tử nên thân; Bữa nay lăo viết giống ǵ nữa đây, chỉ hại tốn giấy?”
Ấy đó, trên bảy mươi mà c̣n bị chó mèo xài xể, hỏi phải hư chưa? Lúc nhỏ v́ mê đọc văn Anatole France nên vướng cái nghiệp của lăo già Ba Tri nầy. Tuy không hiểu hết những câu sâu sắc của lăo, nhưng lại thích cái giọng trịch thượng nửa đùa nửa thật, hơi cay một tí thôi, vừa nhẹ vừa thâm, hiểu được mớ nào, thấm ư đánh đùi cái chát? Thú vị nhứt, đọc măi không chán là bộ “Le crime de Sylvestre Bonnard”, và đoạn ly kỳ nhứt trong sách là chỗ diễn tả cách báo ân đáp nghĩa của chị ả huê khôi, nửa đời tài sắc trước nghèo xơ xác đến nỗi phải trú ngụ trên gác thượng của lăo hàn lâm nầy, rồi sau đụng một ông hoàng giàu sang không mấy hồi, trực nhớ ơn xưa lăo hàn tặng một chén xúp khi đói lạnh, nay biết lăo ham sách bèn sai con ôm đến nhà đêm No-en dâng cho lăo một cuốn sách quí đựng trong bộng một khúc gỗ củi chuyện đọc thật là khoái trá. Chương trong sách tựa là “La buche de Noel”, ai muốn thường thức hăy t́m mà đọc. Nay tôi mượn ư viết tập nầy mở đầu truyện “Anh Vương tự thuật”.
“Dừng chén ngoảnh lại trời non nước,
Một mảnh t́nh riêng: ta với ta”.
(Thơ Bà huyện Thanh Quan “Qua Đèo Ngang”)
Đêm nay, cớ sao hai câu thơ trên như thôi miên tôi, như vương vấn tâm hồn, ngâm đi ngâm lại măi không biết chán. Buổi đầu hôm ăn mừng sinh nhựt, lễ trung thọ thất thập tam tuế, Năm dâng chén rượu mừng khiến cảm động, đóc giọng c̣n cay. Nếu đời quen lấy trăm năm làm hạn, th́ kiếp sống ḿnh kể đă hơn nửa độ đường, trời cho thêm được ngày nào, kể như là lăi. Phần c̣n lại, không nên tham nhiều. Ô hay! Lên chói đỉnh tự hồi nào? Và sẽ lần dốc xuống triền được bao lâu nữa? Thật là không sao nhớ xiết Và xiết bao bồi hồi. Lên đến chót đỉnh tất đă đăng cao. Lên cao rồi phải hạ. Mai nầy cất bước ḍ lần đường xuống. Tức nhiên câu thơ tức cảnh Đèo Ngang bà Thanh Quan làm sẵn mà nó phù hợp với cảnh ngộ của ḿnh làm sao? Ám ảnh là phải.
Đêm đă về khuya, tư bề lặng lẽ; rất phải dịp cho ḿnh chiêm nghiệm việc đời. Thử bỏ bàn toán tính sổ: lỗ hay lời, trước giờ gác đầu về núi, ta phải biết để mà lo liệu.
Nhà hiện thời đang ở, truyền đến tôi đă hơn ba đời. Thế mà ḿnh vẫn tưởng là một dịch đ́nh tạm, dừng chén đêm nay để mai nầy trẩy bước. Nơi pḥng bên cạnh, mẹ con chúng đang ngon giấc. Hơi thở đều đều của một mớ tóc bông của người hiền phụ và làn môi son của trẻ. Nhớ đến trẻ, cục máu thâm t́nh duy nhứt, đứa con muộn màng mà cũng là cái mốc ăn chịu với đời của tôi. Bao nhiêu t́nh yêu buổi thanh xuân đă như giọt sương buổi sáng bao nhiêu người thương cũ đă rớt rơi hoặc nằm yên nơi bên kia triền dốc: mẹ tôi mất năm 1913, tôi biết khóc tiếc người hiền mẫu khi tuổi độ vừa mười một. Năm tản cư 1946 khi hồi cư về nhà th́ chịu tang cậu tôi. Nhưng chưa thảm bằng năm ấy mất đứa em trai mười chín tuổi, Vương Hiển Vinh, tuy khác mẹ nhưng xem dường ruột thịt. Làm thanh niên tiền phong, lánh giặc Tây rút chân theo đồng chí, đang cữ rét hành, trốn lính Tây nhảy vào bụi ô rô, Tây đi mất là tử thần vội đến, Vinh thở hơi cuối cùng, nay nắm xương lạc loài c̣n vùi đâu đó nơi cù lao Dung lạnh lẽo, chưa được mang về. Thời gian măi như vầy, khi hết chiến tranh, dễ ǵ t́m thấy xác.
Ba tôi tám mươi sáu tuổi, mất năm 1961, là người thân yêu khoá tạm cuốn sổ nầy. Hồn mẹ có linh, phách Ba dầu hiển, lại với mấy d́ và mười đứa em trai sanh chưa kịp đặt tên đă trở về âm cảnh, bao nhiêu ấy là cốt nhục t́nh thâm nay gom lại làm mười mấy núm mộ nằm lúp xúp trên đất nhà ở Sốc Trăng, xin hăy về cùng tôi đêm nay nhấp chén mừng trung thọ. Nhưng xin đừng làm động giấc ngủ ngây thơ pḥng bên cạnh. Hiền thê và Bảo con, hăy ngủ cho ngon, mai nầy chúng ḿnh sẽ trẩy một khúc đường mới lạ c̣n dài lắm.
Tôi khoác thêm áo ấm, kéo ghế tránh bóng đèn, đêm nay nguyện thức viết cho thật nhiều, kể lại cuộc đời đă qua, lưu lại cho vợ hiền con thơ được biết.
Ô hô? Tuổi chẳng chờ ta...
Tôi nghe nhiều người phàn nàn, cho rằng không hơi đâu nhắc lại chuyện cũ. Cái ǵ đă qua, hăy để cho nó qua. Hăy nh́n tới tương lai mới phải.
Tương lai! Tương lai! Cách nay ba chục năm, tôi cũng say mê về tương lai, về ngày mai sẽ đến. Nhưng trải qua nhiều biến cố, từ năm 1945 cho đến nay, tuổi ṃn chồng chất, tuy chưa đến độ chồn chân mỏi gối, tuy vẫn c̣n đi bộ hàng cây số không mệt, ngồi đánh máy suốt ngày không đau lưng, nhưng quay đầu ngó lại buổi đă qua, mới thấy cái hay của dĩ văng.
Đời vẫn không cay nghiệt ǵ với tôi. Tôi phải biết ghi ân rằng đời đă dành riêng cho tôi khá nhiều hạnh phúc. Nhưng khi ai kia nhắc đến buổi tương lai, bỗng khiến tôi lại bùi ngùi lo sợ. Bất giác tôi lại hồi tường tới chuyện đâu đâu. Tôi đă hết trông cậy vào tương lai, và nếu phải ước mong, hoạ là gởi hết vào cái đầu non và mớ tóc xanh của trẻ đang say giấc nồng bên cạnh.
Xin ơn trên ban tôi thêm vài tuổi, có th́ giờ đủ thấy đứa trẻ nên người.
File được đính kèm
Kiểu file: prc Hon Nua Doi Hu.prc‎ (882,3 KB, 90 xem)
View admin's Photo Album admin đang ẩn   Trả lời với trích dẫn
Cũ 25-06-2009, 08:52 PM   #2 (permalink)
Administrator
Xem bộ sưu tập
 
Tham gia ngày: Jun 2009
Bài gửi: 193
Thanks: 1
Thanked 32 Times in 26 Posts
Mặc định Sài G̣n Tạp Pín Lù - Sách của cụ Vương Hồng Sển Tiếp

Sài G̣n Tạp Pín Lù
Thay lời tựa
Sài G̣n “tạp pín lù” là ǵ?

Nếu dịch đúng ra Hán Việt, là “Sài G̣n đă biên lô” vẫn chưa ai hiểu là ǵ? Tả, tạp là “đả”, đánh; Pín - có hai nghĩa: “pín” là đuôi sam thằng Chệc đời Măn Thanh, nhưng đây pín có nghĩa là “biên” (Hán tự) và “bên, gần bên” (Nôm). Lù là ḷ, ḷ lửa.
Tạp pín lù, là “đả biên lô”, tức là món ăn nấu chín gần bên ḷ lửa; cũng như “ăn sán lẩu” là ăn thịt sống nhúng vào nước sôi bắt trên ḷ lửa nóng. Số là người Tây bày ra một từ khí làm bằng ch́, thiếc, vật kim khí có chân cao giữa khoét lỗ đặt vài cục than cháy, chung quanh là nồi chứa nước thịt ngọt, khách ăn tự lựa từng món ngon: mề gà, ḷng heo, ruột già, ruột non, dồi trường, tự gắp bằng đũa và nhúng vào nước thịt đang sôi, rồi tự gắp qua chén và không cần biết món nhúng đă chín hay c̣n sống sượng. Rồi th́ rượu cay, rau sống ngốn nghiến chàm ngoàm cả miệng không thốt ra lời được, món ăn ấy gọi “ăn sán lẩu”, dịch ra Hán tự là sán - sanh (thức ăn c̣n sống, chưa chín), “lẩu”: ḷ (lô), ăn Sanh lô, nhưng nếu nói: “sanh lô” ba Tàu không hiểu, phải nói theo họ “ăn sán lẩu”, hoặc ăn “cù lao” vân vân.

Tiếng miền Nam rắc rối pha chè, người ngoài vô đây, xin khuyên đừng ham “nói chữ”.
Sài G̣n tạp pín lù, nôm na là Sài G̣n thập cẩm, Sài G̣n tào lao, Sài G̣n ba lăng nhăng, ai muốn hiểu sao th́ hiểu. Sài G̣n sán lẩu cũng được, nhưng tạm dùng danh từ tạp pín lù. Nếu nói theo Bắc th́ “Sài G̣n thập cẩm; nếu nói theo Trung th́ “Sài G̣n tào lao”, nhưng tác giả sanh tại Sóc Trăng (Nam Kỳ) nên: tập nầy danh gọi Sài G̣n tạp pín lù là v́ vậy.

Thay lời tựa
Thư một người chửa quen biết, gởi cho tác giá “Sài G̣n năm xưa” Thưa ông,
Tôi là V.A. hiện ở Paris chưa tiện nói danh tánh và địa chỉ, thơ từ xin dùng lối poste réstante, hộp thơ số...
Đời nầy không nên thấy sang vội bắt quàng làm họ. Về sang, đúng ra ông chưa có, duy có nhà c̣n y như cũ, đồ ngoạn hào không hảo hớt, văn viết c̣n có người đọc. Quyển “Sài G̣n năm xưa” c̣n người t́m mua vởi giá cao, quả ít ai được như vậy, tạm gọi rằng sang. Tôi nay, quê quán Mỹ Tho (Rạch Gầm), chồng chẳng may sớm thất lộc, cùng quê vởi quê vởi ông ở Sốc Trăng, bắt quàng được chứ?
Giũ lời tiên phu kư thác, nay tôi nhờ người thân tín nầy cầm bức thơ và luôn tập nhật kư cuộc đời cửa hai tôi, nhờ ông điểm xuyết, tôi đàn bà viết c̣n vụng về, sau nầy có dịp tiện tưởng ông nên cho vào “Sài G̣n năm xưa” gọi bổ túc. Ông viết “Sài G̣n năm xưa”, xuất bản đă hai lần, sách biên khảo được vậy là khá, nhưng tại sao ông bỏ sót không viết đầy đủ về nhóm chị em chúng tôi. Trong sách ông kể đủ, nào Trần Bá Lộc bợ Tây, bạo tàn, nào Đỗ Hữu Phước bán đứng liệt sĩ Thủ Khoa Huân, làm giàu trên xương máu đồng bào, nào Sáu Ngọ vua cờ bạc... nhưng v́ sao ông chừa giới ăn chơi, đám công tứ bột, và nhóm giang hồ lưu lạc, mượn yên hoa son phấn hành nghề? Vâng, nhóm son phấn ẩy, cứ gọi đúng tên, có chi rằng nhục, có tên để gọi. có chữ để đọc, kêu xách mé hại ǵ? Hay v́ yêu hoa nhắc đến truỵ lạc, ông sợ nên né tránh?
Miệng tụng kinh Di Đà, ḷng chứa sẵn một bồ dao găm. Ấy là quân giấu h́nh, giấu dạng. Ban ngày ăn tương chao niệm Phật, trời sắp tối, tay cầm chuỗi, tay gơ mơ, mắt láo liếng xanh khách. Khách xuống xe đi lỏn nhà , nhè nhà kế bên cũng thờ thần mày trắng bước vô, kinh đọc chữ cà lăm, chữ vấp váp, thà làm nghề nằm ngửa như bọn tôi mà ít tội hơn. Thế gian truỵ lạc c̣n nhiều làm sao kể xiết? Xă hội ngày nay đă dường thế, ông có giấu cũng không xong. Phàm xấu che tốt khoe là thường lệ, thơm ǵ đời con đĩ mà thuật ra đây. Nhưng xin chớ quên chút công của chị em chúng tôi mới phải. Những năm 1920 đến 1945, ruộng Hậu Giang nhờ kinh xáng khai thông mà phát, mùa trúng liên tiếp, lúa lại được giá, con cháu các địa điền chủ lớn đua nhau giỡn với tiền rừng, bạc biển. Có thằng, cha chết chưa kịp chôn, đă ăn cáp bằng khoán, ôm đi cố cho chà setty (chetty) lấy bạc cho kịp mua xe chở em đi ăn nem hứng gió. Các chủ ruộng có con trai đều háo hức cho sang Pháp, thi đậu bằng trung cấp thứ thiệt làm nghề thầy căi, thày thuốc, thầy nhổ răng, nay thảy đều già cóp. Đám khác không biết học chữ, th́ lại học khiêu vũ, nhiếp ảnh, cắt may về xứ mở pḥng chụp h́nh (Antoine Giàu”, lập nhà may Âu phục (Nguyễn Phong Tân), đồng bào hại đồng bào, thời Nam kỳ quốc, bắt nói cho sửa “Tân Sơn Nhứt’ hễ nói “nhất’ th́ a-lê hấp cho chầu Diêm Vương, tưởng hưởng lộc Tây lâu dài, té ra vẫn đền mạng bên Pháp v́ tội bán nước, chạy trời không khỏi nắng. Có nhóm ít tiền, cho con ra học trường cao đẳng ở Hà nội để làm đốc phủ, đốc sự, mộng Huỳnh lương chưa tỉnh, sự nghiệp đă đi đời, kẻ đau tim chết sớm, kẻ chờ con lănh sang nước ngoài chở thời, các con chủ điền muốn xứng danh “công tử bột, phá gia chi tử”, nếu không có chị em chúng tôi tiếp tay, xô đẩy làm cho cái xă hội ăn chơi đàn đúm trào Pháp mau sụp đổ. Có thế ấy th́ cái xă hội này mới có chỗ mọc lên. Ông không viết trong “Sài G̣n năm xưa” nên chị em chúng tôi phải nhắc. Đừng gọi là phá gia chi tử, họ không hư hơn ai kia đâu. Họ có quyền tung văi đồng tiền của ông cha họ làm giàu bằng mồ hồi nước măt tá điền, nay bọn con tá điền trở về báo thù, ấy là quả báoo nhăn tiền, chớ đâu phải thiên đao bất công. Nếu không có chị em chúng tôi hốt văi quăng bừa th́ đồng tiền thất đức của chủ điền chủ ruộng vẫn khoá chặt trong tủ sắt hiện Bauche, hiệu Fichet, làm sao lọt tới tay bác lái xe, chú thổi bếp. Gánh nước làm chi cho đau vai, ở trong làng lấy một chồng làm chi để sanh con lũ khủ cực thân, sức đàn bà có bao lăm và chỉ có làm nghề không vốn nầy, ủa quên, vốn là nhan sắc trời dành, hoạ may mới cất đầu lên được, không chi cũng ăn mặc sung sương trong một thời gian. Không bán dạng thuyền quyên. không xuống đường làm đĩ để chết rục trong xó hè à? Làm đĩ có ba bốn đường vả lại có chồng mà c̣n ăn vụng lại thúi hơn là làm đĩ công khai. Chúng tôi sanh sống trong những năm 1920-1945, tḥ bốc trong túi công tử bột, ăn to xài lớn, tung văi: đục, khoét, gặm, nhấm, làm đủ mọi cách, xă hội như nay mới có. Tưởng không nên cười con đĩ và nên chấm công cho gái giang hồ. Bao nhiêu nước mắt của chị em chúng tôi, nếu có phép nào gom lại được th́ sẽ biến thành “khổ hải” bao la. Bao nhiêu nỗi oan khúc bất công của xă hội đối với chị em chúng tôi, nếu có phép quy tụ lại th́ ắt hoá ra lửa, lửa nầy đủ để đốt bầu trời nầy tan ra mây khói, và khói nầy sẽ là thiên hồn địa ám, mù mịt c̣n dày hơn bên Anh quốc những tháng sa mù, đèn Diogène đâu dễ rọi thấy đường
Chúng tui nào muốn phơi hày sự tích không thơm tho cho công chúng biết. Riêng tôi nay đă yên thân chốn nầy, không khác kẻ dưới sông đă lội được lên bờ, bụi trần gội sạch, há vạch lưng cho khách qua đường như ông đếm thẹo hay sao. Có chị nào lớp nhỏ, lên chưn quá, ông nên đốt bớt cho vừa. Vừa tập tành, chân chưa sạch phèn, đă tưởng ḿnh khôn hơn thiên hạ!
Cái kiếp má hồng, sớm tươi bao nhiêu, chiều càng lợt bấy nhiêu, chị em bạn gái chở ỷ tài và chớ quên điều ấy.
Ḷng chai dạ đá là ḷng con đĩ ít học rnhư tôi, ăn cháo đá bát là bụng con đĩ giận đời bỏ rơi thành ra bất măn (như tôi). Lúc c̣n son sắt, những ham bay nhảy đua đ̣i, khác nào chim non vừa ĺa ổ mẹ đang tập bay, và khi lông cánh đầy đủ, máu tham hơi đồng càng hăng, nào c̣n hiêt trởi kia có mắt. Đến khi chung cuộc ai từng đọc truyện Tây Du ắt nhớ lúc lăo Tôn Ngộ Không thi tài cùng hư Lai. Tôn dùng cân đẩu vân nhảy một nhảy tưởng đụng nóc trời. Khi gíác ngộ, xem lại: ḿnh vẫn đứng lé đé dưới chân Phật tổ và vũng nước dơ để làm dấu, nay lớn không hơn bọt miếng con thằn lằn. Chuông chùa cảnh tỉnh đêm khuya, Nam Mô A Di Đà Phật, thanh dơ văn chung càng tỏ. Viết được th́ nên viết để răn hờ đám chị em, nhưng xin khuyên ông nơi nới tay, v́ “gở cho hết nợ, c̣n ǵ là duyên”.
C̣n sống đây, tôi c̣n đi đây đi đó, không muốn có người chỉ trỏ, chúng tôi chết rồi, mặc t́nh ông muốn hỏi tên tôi.
Chúc ông giai lăo và mong sớm đọc những ǵ ông viết.
Kư tên: Quả phụ V.A.
Paris, ngày... tháng... năm...
* * *
Dẫn
Bức thơ của bà V.A. và tập bồi kư viết tay nầy, do một tiến sĩ nguyên tử học từ bên Pháp nhân về thăm gia đ́nh, ghé trao tôi vào buổi sáng ngày 14 tháng tám dương lịch 1979, là ngày 22 tháng 6 nhuận năm Kỷ Mùi. Thú thật, hôm đó ḷng tôi đang ngổn ngang rối rắm v́ c̣n phải chạy vô Chợ Lớn, cho kịp trước giờ cất đám anh Lê Ngọc Trụ (mất vào chiều thứ bảy 11-8-1979, (tức 19 tháng sáu nhuận Kỷ Mùi) khiến nên tôi chỉ nói vắn tắt vài lời xă giao cùng cô ấy, rồi cáo lỗi để lo làm phận sự đối với anh bạn chí thân Lê Ngọc Trụ.
Măi đến tháng ba năm 1982 nầy, tôi xán cảm nặng đến lo sợ không c̣n viết lách chi được nữa, khi ấy tôi mới hồi tâm lấy tập hồi kư của bà V.A. ra đọc và ra công đánh máy lại sạch sẽ, hầu giữ lời với bà V.A., nếu có dịp thuận tiện sẽ tự xuất bản, bổ túc quyển “Sài G̣n năm xưa” như lời bà đă khuyên. Hoặc giả chưa xuất bán được th́ cũng cứ sắp xếp cho sẵn sàng. Dẫu có ra đi theo ông bà cũng mặc kệ, phú cho người đi sau, muốn sử dụng cách nào cũng tốt, v́ tôi nào c̣n ở đây mà cản trở hoặc cho ư kiến kiếu thọc gậy bánh xe.
Ngày 9 tháng sáu Dương lịch 1982
* * *
I. Chuyện thứ nhứt: Chuyện một cô lưu lạc
(nhan nầy do bà V.A. chọn như vậy).
Nếu tôi cứ ăn ở theo sách, cứ lấy chồng trong làng, cứ an phận tuỳ duyên, cui lục làm ăn, gánh nước nấu cơm giũ mùng giặt áo, th́ bất quá về già trở nên một mụ trầu, nếu may mắn lắm, chồng là con thây Cai tổng, th́ nay lên mặt bà xă, bà hương, tốt phúc hơn nữa, ông Cai có đất điền, th́ tôi sẽ nối giữ ruộng vườn, làm bà chủ điền, rồi con bầy cháu lũ, sáng trông nom quết chuối nuôi heo, chạng vạng tối coi trẻ tắt bếp đóng cửa, rồi thỏn mỏn chết rụi trong bóng tối, rồi đời một kiếp hoa. Tột bực đi nữa, chồng là học tṛ giỏi, thi đậu làm ông nầy ông kia, lên đến tột phẩm nhơn thần trong nầy là đốc phủ, chú quận. Chi cho bằng trốn cha trốn mẹ, một khi sấn bước giang hồ, thế mà được ăn sung mặc sướng, lên xe xuống ngựa một lúc, nay chễm chệ trời Tây một ghế, hỏi ai hơn ai? Tôi không dám khuyên lấy gương tôi mà bắt chước, cũng không biểu đừng noi dấu tôi mà bước theo. Đèn nhà ai, nấy sáng. Và đại phàm, “Mỹ nhơn tự cổ như danh tướng, Bất hứa nhơn gian kiến bạch đầu” (cổ thi). (Tôi dịch theo tôi: “Ngàn xưa người đẹp như danh tướng, không hẹn cho ai thấy bạc đầu” (Xin giữ y nguyên văn cho tôi, - ư muốn của đàn bà).
* * *
Kể trong Nam người biết dùng son phấn kiểu đàn bà Tây phương, th́ nghe nói lại ở Chợ Lớn năm xưa có nhà ông Đốc phủ Sư, bà dùng nhan sắc chiêu dụ các quan Tây, quan An nam c̣n danh từ “bằng cấp da” v́ đă lấy cái da b́ bạch trong thơ bà Đoàn Thị Điểm để thực hành, mảnh bằng ngày xưa bên Pháp viết trên da thú thuộc chế cho da c̣n đời đời; sao bằng da người thêm tươi mát, nơn nà, chồng mau thăng cấp. Bà chế ra son để vẽ môi, chế ra phấn đê tô mặt, giấy nhang phấn ch́ bà đâu thèm xài, và các có con bà, mặc áo mong mời cháo đêm khuya, các tay bài, mê cái trắng hở hang, khách quên nước bài, bổ khạp bổ đôi, càng mau sạt nghiệp. Nhà của bà, nay dấu tích c̣n trên đại lộ Hồng Bàng, chỗ có mấy cái tháp giữa lộ, v́ khu đất là một ngôi chùa cổ, ông châm một câu tiếng Pháp, Tây dẹp chùa thưởng đất cho ông làm chủ.
Kể về người đẹp trong Nam, xưa hơn hết, có có Ba, con thầy bông Chánh - thông Chánh dám xách súng bắn biện lư Táy Jabouin ở Trà Vinh, năm xửa năm xưa, con là cô Ba được hăng xà bông Việt Nam in lại h́nh trên mỗi viên xà bông bán chạy vo vo, không lửa sao có khói, và cũng v́ bóng sắc sa mê mà tên giữ công lư kia đến quên đường đạo đức: chết cũng đáng.
Xứ xứ hữu giai nhân kỳ nữ:
Đất Bắc thơm tho, đại biểu là cô Tư Hồng, với càu:
Ngũ phẩm sắc phong hàm cụ lớn
Trăm năm danh giá của bà to.

Một câu lơ thơ có 14 chữ, nghe rất nôm na; có người vội vàng tưởng “hàm cụ lớn” đối với của bà to”, th́ chữ “của” nghe không được chỉnh, ấy chết, có ngờ đâu chính chữ “của” mới là đắc thế nhất của nhà nghĩ ra chữ nầy. Nối bật lên, có thể làm rung động cám giác người già nua có lẽ là tiếng trống ngũ liên giữa khoảng làng đêm vắng. Có chữ “của” câu đối mới hay: một ḿnh nó kư thác cá hai ư muốn: vừa khen tâng bốc, vừa xỏ ngấm ngầm. Khi moi được chữ “của” đế gieo vào câu văn, giá ai gạ đổi chữ “của” lấy một xe hơi Hoa Kỳ, đám chắc nhà nho kia nào ưng đổi chác. Nhứt là cụ Tam nguyên Yên Đổ, cha sanh chữ nầy, lúc ấy đă loà hai mắt, c̣n thiết tha ǵ ô tô xe Mỹ quốc? Nhưng kể về văn chương cụ c̣n giàu sụ, chưa hết tứ, cụ c̣n hạ thêm câu:
Có tàn, có tán, có hương án thờ vua, danh giá vang lừng băm sáu tỉnh,
Này biển, nầy cờ, nầy sắc phong cho cụ, chị em hồ dễ mấy lăm người.
Tiện đây đế ghi lại những danh hoa đởi trước, tuy chưa phải hoa khôi, nhưng đă làm tiền phong cho chị em lưu lạc sau nầy.
Đó là:
- Cô Chánh Bẹt-tăng, ở Sốc Trăng, chồng là tham biện Pháp, nh́n một người con sau làm thanh tra Sở mật thám, nhưng được chữ hiền, không làm hại ai, tên Gaston Bertin, em ông nầy, học lớp nhứt trường tỉnh cùng tôi đồng trang lứa, v́ không có khai sanh nên không thi tiểu học được và mất tích luôn, là anh Jean T́nh.
Ở Sóc Trăng, lối 1918, có cô Hai Đẩu, chồng lập nhà hàng bán những món ngoại hoá âu châu: đèn man chon, sa von thơm, phấn chà răng v.v..., nhưng dân trong xứ c̣n quê mùa, thấy cách trưng bày quá sang, y như nhà hàng Tây, nên không dám vào mua chác, sau phải dẹp quán, lui về sinh sống ở Sài G̣n. Đời nầy không dùng chữ Bà, dùng chữ cô (cô Chánh Bẹt-tăng, cô Hai Đẩu, v.v...) là đă nể nang lắm rồi.
Sau cô Bẹt-tăng ở Sốc Trăng, có cô Ba Thọ, nhà ở xóm nhà thờ. Tuy rỗ hoa mè, nhưng cô Ba rất có duyên ngầm, cô không dùng son phấn, để mặt tự nhiên mà lại quyến khách hơn ai, cô dong dảy người, cao ráo, cô đáng hàng cô bác, nhưng lối năm 1933, mỗi lần cô ngồi xe kéo tay, xe đi ngang nhà, để vô đinh ông chủ tỉnh, tôi ngó quên thôi, tuy vẫn biết đó là món hàng của ông bô ḿnh. Chủ tỉnh ở Sốc Trăng những năm ấy là Giudicelli, nhất hạng tham biện, v́ có bịnh hút nên đường công danh không leo đến ghế thống đốc Nam Kỳ, nhưng các thống đốc, khâm sứ đều kiên tài viết văn, cô Ba như cây kiểng xinh xinh để gần bàn đèn cho ông ngắm, chồng ngày vợ tháng, hai người không xơ múi ǵ, cô nhờ ông như chùm gởi đóng nhành me, ông bám cô như thằn lằn ôm cột cầu, tuy vậy mà mối t́nh tương đắc.
Chép đến đây, tôi xin nối lời bà V.A., v́ là trang khai màu, kể tiếp luôn nhũng danh kỵ lừng danh thôi Pháp thuộc, lắm cô chỉ “văn kỳ thinh”, vài cô vẫn được diễm phúc “kiến kỳ h́nh” và xin đừng hỏi tôi thêm, tội lắm. Đó là: không sắp theo thứ tự, vả lại mỗi cô có một sắc thái riêng biệt, biết làm sao sắp xếp cho vừa ḷng cả chị lẫn em, chị tuy lé nhưng răng đều đều như hạt dưa, nào thua em, tuy tươi tốt mới mười tám thanh xuân, nhưng phải nỗi khi đến gần, phảng phất mùi ni chà, mất hứng. Thôi th́, xin lỗi nhé, đành dành riêng mỗi người một chiếu, và lần hồi sẽ kể sau đây, cũng không dám đi quá sâu vào đề, e đụng chạm làm chinh ḷng người c̣n sống, đă là nhắc lại đây như điểm binh ai c̣n ai mất, hà tất tranh luận ngôi thứ cho thêm phiền. Chuyện đă lui vào dĩ văng, nay nhớ chừng để tưởng niệm các cô:
- Cô Ba Pho, tộc danh là Lê Thị Ngọc, thánh danh là Rosalie, từng làm chủ một nhà may, náo nức yến anh, đường Sabourain (Tạ Thu Thâu - nay là Lưu Văn Lạng) buổi trước;
- Cô Tư Ăng lê, không rơ tên ǵ cho hản, tay bài kéo xệp câu tôm của bà nhạc, mỗi lần đến nhà để “câu cá”, vẫn sóng thu mắt liếc như dao;
Cô Marie Huê, ngồi kết nhà bán cơm Việt “Đông Pháp lữ quán” đường Espagne cũ;
- Cô Ba Cù là, có giọng khao khao, mỗi lần hỏi tôi mượn tiền, dầu không có, mắt cô ướt ướt, mũi cô đo đỏ, dẫu tiền không một xu dính túi, cũng phải đào cho ra.
- Cô Hai Thời, nhà ở ngang nhà hàng cơm Tây ở đất Hộ (Dakao), cùng một dăy với rạp chớp bóng nay gọi Rạp Cầu Bông; tôi nhớ địa chỉ rơ, v́ cô là kế thất của ông Bô, thông ngôn toà án Sài G̣n, nhiều người c̣n nhớ danh, ông Trần Văn Kính;
- Cô Lucie Bandeau, gọi làm vậy là cô bị đế dấu tích trên trán, nhỏ thôi, nhưng đế che vết nầy, cô thường lấy một băng màu che khuất mà thành danh luôn;
Cô Chapuis, gọi theo tên chồng, trước ở Cần Thơ, sau lên Sài G̣n, khiêu vũ nghề riêng ăn đứt không nhường cô gái nhảy Cẩm Nhung sau nầy.
- Cô Năm Cần Thơ, kết bạn với một vị luật sư quê ở Châu Đốc, cùng đi kháng chiến, không hiểu v́ sao keo tan hồ ră, cô bỏ về và biệt tích luôn ở Sài G̣n.
Cô Sáu Hương, em công tứ Bích, cả hai vốn con nhà giàu lớn xứ Trà Vinh, đi ăn chơi theo tiếng gọi trái tim chớ không v́ sinh kế.
- Cô Tư Nhị, trẻ trung và đang độ xuân th́, quê ở Nam Vang xuống.
- Cô Ba Trà, nơn nà lấn hơn Tư Nhị, và vẫn là địch thủ, giành riêng một công tử sẽ nói nơi sau;
- Cô Bảy Hột Điều, v́ khuôn mặt chữ điền, y như “Hột Điều” nay đă khoát áo nâu sồng, sắp như vầy, v́ cô có một sự tích ly kỳ, hồi sau phân giải;
Và c̣n nữa, nào Sáu Én, Chín Én, Mười Tóc Đỏ, làm sao kể đủ, mỗi cô như hoa riêng mỗi sắc, chỉ thua các chị về bề thẻ, vè địa vị, chớ kể về nhan sắc há thua ai.
Đến đây xin tạm ngừng, nếu sơ sót sẽ thêm sau, và chép tiếp chuyện theo bà V.A. đă viết:
Chịu trách nhiệm xuất bản: Nguyễn Kiên
Chịu trách nhiệm bản thảo: Ngô Văn Phú
Sửa bản in: Nguyễn Xanh Vàng
B́a: Nguyễn Đức Nhu
File được đính kèm
Kiểu file: prc Sai Gon Tap Pin Lu.prc‎ (607,5 KB, 52 xem)
View admin's Photo Album admin đang ẩn   Trả lời với trích dẫn
Cũ 25-06-2009, 08:56 PM   #3 (permalink)
Administrator
Xem bộ sưu tập
 
Tham gia ngày: Jun 2009
Bài gửi: 193
Thanks: 1
Thanked 32 Times in 26 Posts
Mặc định SÀI G̉N NĂM XƯA - Vương Hồng Sến

Vương Hồng Sến
SÀI G̉N NĂM XƯA
Tựa

KÍNH DÂNG BA
tập biên khảo thường đàm nầy để tưởng niệm những phút êm đềm đă qua:

Năm 1919, Ba đưa con lên Sài G̣n vô trường lớn.
Con bắt đầu nếm mùi cháo cá Chợ Cũ, hủ tíu Chợ Mới, xem hát th́ Chùa Bà Chợ Lớn, nhai thịt ḅ kho thằng Lù, có năm cắc leo chuồng gà ngồi coi hát Tây, và cảnh không c̣n gặp nữa là: bữa bữa hai cha con thượng cao lâu ăn cơm xá xíu.
Năm 1927, Ba lên thăm, con mua bánh Catinat, ḷng mừng dâng Ba món lạ. Ba không dùng, hỏi con: "ChữHiếu " sao có đắt tiền?
Năm nay 1960, đầu con bạc mà túi vẫn nhẹ, muốn mua bánh, Ba không lên: xe giằn, đường xa, hai con đ̣ Cái Vồn và Mỹ Thuận vẫn có tiếng không lịch sự đối với hành khách "bát thập lăo ông" như Ba vậy!
Những kư-ức bấy lâu, con viết gởi về:
"Vương Trạch Nhựt, cháu hăy đọc lớn cho Nội nghe."

Gia Định, đường Rừng Sác, số 5,
ngày 26 tháng 5 năm 1960
SẾN
TỰA
Bởi thấy tôi là người trong Nam, đầu pha hai thứ tóc, làm việc trong một cơ quan chuyên môn, thêm có tánh ham chơi cổ ngoạn, tom góp giấy má cũ đầy nhà, rồi tiếng đồn truyền ra: tôi sành sỏi chuyện xưa, tôi giỏi kê cứu điển cổ, báo hại phần đông văn hữu Bắc và Trung, ông nào quen một đôi lần, gặp nhau, hết năm ba câu lấy lệ, làm ǵ cũng hỏi vặn tôi về:
"gốc tích hai chữ "SÀI G̉N".
Nói ư? - Chỉ bày cái dốt của ḿnh ra!
Nín ư? - Người cười, càng thêm khó chịu!
Thôi th́ c̣n một cách: ôm mớ tài liệu thâu thập bấy lâu - dù hay dù dở, dù chưa bằng bụng, ḿnh biết lấy ḿnh - bày hết, tŕnh hết ra đây - mặc t́nh các vị xa gần tùy thích lựa chọn: "tóc tơ cặn kẽ đuôi đầu," dù chẳng làm nên cái bánh ngon, cũng được tiếng là không xấu bụng!
Đối với các bạn nhỏ hiếu học, tôi xin nói lớn:
1) - Chỗ nào các bạn thấy mới, đừng sợ: ấy tôi đă cân nhắc kỹ càng, cứ tin cứ dùng: "coi vậy mà xài được!"
2) - Chỗ nào chưa "êm", nhờ các bạn chỉ giùm, nếu t́m cách bổ khuyết càng tốt, gọi giúp lẫn nhau: già thua trẻ không xấu, mắc cở bậy, hay ǵ?
Đối với các học giả, các bậc lăo thành, các vị cố cựu đất Sài G̣n, tôi xin "nghiêng tai nghe dạy, chắp tay đứng hầu."
Học giả tiền bối trong Nam, cụ Trương Vĩnh Kư, trong "Excursions et Reconnaissances" (tạp chí về du lăm và thám hiểm), tập số 23. tháng Năm và Sáu năm 1885, có viết một bài khảo cứu Pháp Văn "Souvenirs historiques sur Saigon et ses environs" (kư ức lục khảo về lịch sử Sài G̣n và vùng phụ cân.) Bài này viết hai mươi lăm năm sau năm Nam Kỳ thất thủ (1859-1885).
Nay tôi dựa theo bài ấy làm nồng cốt mà kể tiếp, nhắc lại những sự biến đổi từ thưở đó cho đến ngày Sài G̣n trở về với dân Việt, ngót một trăm năm.
Bắt tay vào việc, cốt ư của tôi là muốn cống hiến ra đây mớ hiểu biết lụn vụn và mớ nghe thấy vặt vănh về Sài G̣n. Cũng nghĩ nếu măi sụt sè, đến ngày xuống lỗ, chắc ǵ ôm theo được? (mà chừng đó ôm theo ích ǵ cho ai?) - Ở đây, tôi chú trọng nhiều nhứt là những đoạn sử buổi giao thời: Pháp - Nam - Chà - Chệc chung đụng, những chuyện "Tây đến Tây đi", những việc chưa ai nói rơ ràng, may tôi được nghe tận tai, hoặc thấy tận mắt, nhiều đoạn do hiểu biết riêng, lắm đoạn nhờ các cố lăo thuật lại. Tôi không dám chắc đúng cả, nhưng "ăn trầu gẫm mà nghe" bây giờ chưa nói c̣n đợi lúc nào? Có nói có căi, lần hồi mới phăng ra sự thật.

*
Tôi không quên cám ơn anh bạn thân Lê Ngọc Trụ, người nhau rún Chợ Lớn, đă dày công giúp tôi xây dựng tập nhỏ nầy.
Cũng như tôi không dám quên ơn tất cả các bạn xa gần đă góp sức cùng tôi, trong số, điển h́nh nhứt, có anh Mười Minh Tải Đặng Văn Kư, người đồng cảnh ngộ với cụ Trần Trọng Kim Tân Gia Ba thưở nọ. Nay Anh Mười nằm khoảnh làm ẩn sĩ, ấp Đông Nh́, G̣ Vấp. Anh không làm ǵ hết, nhưng anh dày công ủng hộ tôi về mặt tinh thần, giúp thêm ư kiến, và đă đổ nhiều bọt oáp trong khi cùng tôi t́m hiểu địa điểm "Mả Ngụy" ngày nay nằm nơi đâu!
C̣n một người nữa, bạn già với nhau, ông Hoàng Xuân Lợi, họa sĩ Viện Bảo Tàng. Mấy ảnh chụp khéo, mấy bức địa đồ công phu không có, làm sao tập nhỏ này thành h́nh?
- Bác Lợi, cảm t́nh chất chứa tận đáy ḷng, tôi vội gói làm một gói "tri ân nồng hậu", xin Bác vui nhận.

Xuân Mậu Tuất (1958)
Xuân Canh Tư (1960)
VƯƠNG HỒNG SỂN
File được đính kèm
Kiểu file: prc SaiGonNamXua-VuongHongSen.prc‎ (542,7 KB, 58 xem)
View admin's Photo Album admin đang ẩn   Trả lời với trích dẫn
Trả lời

Đánh dấu

Công cụ bài viết
Kiểu hiển thị

Quyền viết bài
Bạn không thể gửi chủ đề mới
Bạn không thể gửi trả lời
Bạn không thể gửi file đính kèm
Bạn không thể sửa bài viết của ḿnh

BB code đang Mở
Mặt cười đang Mở
[IMG] đang Mở
HTML đang Tắt
Trackbacks are Mở
Pingbacks are Mở
Refbacks are Mở


Chủ đề tương tự
Chủ đề Người khởi xướng chủ đề Diễn đàn Trả lời Bài cuối
Sách cổ - Thuật đoán mộng của người xưa admin Download Sách Cổ 7 13-09-2011 07:37 PM
Sách của cụ Vương Hồng Sển! changtraidacam Sách cổ 3 11-07-2011 01:51 PM
Thanh lư thiết bị cũ của xưởng công nghiệp đang sử dụng vuanui Máy móc , thiết bị công nghê , 0 30-10-2010 09:33 PM
Giấy in chuyển nhiệt sử dụng với mực nhiệt. lyquocan Máy móc , thiết bị công nghê , 0 18-09-2009 03:32 PM
Lào Cai: Sưu tầm được 500 cuốn sách cổ của người Dao xeco Sách cổ 0 23-06-2009 11:49 AM


Múi giờ GMT +7. Hiện tại là 07:29 PM



Sử dụng mă nguồn vBulletin® Phiên bản 3.8.3
© 2007 - 2012 Nhóm phát triển website và thành viên CHOIDOCO.COM.
BQT không chịu bất cứ trách nhiệm nào từ bài viết của thành viên. Ad Management by RedTyger