Cổ vật từ những ḍng sông Nam bộ
- Ngày 10/12/2008, Bảo tàng Lịch sử Việt Nam TP.HCM khai mạc một triển lăm khá độc đáo – Cổ vật từ các ḍng sông Nam bộ.
Triển lăm trưng bày cả ngh́n hiện vật được vớt lên từ hàng trăm địa điểm, cho thấy cổ vật dưới các ḍng sông Nam bộ rất phong phú với nhiều loại chất liệu đá, gốm, đồng, vàng, bạc, gỗ…, xuất xứ từ nhiều nước như Việt Nam, Pháp, Tây Ban Nha, Mexico, Thái Lan, Trung Quốc…

Một em bé đi ngang qua khu triển lăm
Các cổ vật này thể hiện đời sống sinh hoạt ngày thường (đồ đựng, đồ mỹ nghệ, các loại thuyền bè…) cũng như tôn giáo và cả các trận chiến đấu, tiêu biểu như cọc nhà sàn t́m thấy ở sông Hậu, trống đồng loại II Heger t́m thấy tại sông Đồng Nai, tượng đồng địa tạng ngồi trên con đề thính ở sông Vàm Cỏ, khẩu thần công ở vàm Rạch Gầm – sông Tiền…
Cổ vật từ các ḍng sông phản ánh khá chân thực những giai đoạn lịch sử Nam bộ từ đời thường đến các cuộc giao lưu kinh tế văn hóa, xung đột quân sự. Đặc biệt, điểm tương đồng giữa những cổ vật trục vớt từ ḷng sông với các cổ vật khai quật trong ḷng đất Nam bộ cho thấy, đến nay chỉ có Đồng Nai là con sông duy nhất ở miền Nam t́m thấy các công cụ bằng đá thời tiền sơ sử.
Những phát hiện khảo cổ học cho biết dấu vết xưa nhất của con người tại lưu vực sông Đồng Nai thuộc sơ kỳ thời đại đá cũ cách nay hơn 1.800 năm (di tích Xuân Lộc) từ đó ra đời văn hóa Đồng Nai. Trong khi đó, dấu tích con người xưa nhất tại khu vực sông Sài G̣n, Vàm Cỏ có niên đại khoảng 3.000 – 3.500 năm (di tích Rạch Núi – Long An, Rỏng Bàng – TP.HCM), và tại khu vực sông Cửu Long, con người xuất hiện chỉ khoảng 2.300 năm (di tích Giồng Nổi – Bến Tre). Sau thời kỳ này là các giai đoạn văn hóa Phù Nam – Óc Eo, Thủy Chân Lạp…
Đời sống của người Nam bộ dù ở giai đoạn lịch sử nào cũng đều gắn bó mật thiết với sông nước. Họ chọn những giồng đất ven sông dựng nhà sàn để ở, dựng đền thờ tiến hành nghi lễ tôn giáo. Sông là đường giao thông trao đổi buôn bán hàng hóa và cũng là nơi diễn ra những trận thủy chiến nổi tiếng như trận Thất Kỳ Giang (sông Nhà Bè – TP.HCM) năm 1782 Nguyễn Huệ đánh tan thủy đội Nguyễn Ánh, trận Rạch Gầm – Xoài Mút năm 1785, Nguyễn Huệ đánh 20 vạn quân Xiêm, trận Nhật Tảo (sông Vàm Cỏ – Long An) năm 1861 Nguyễn Trung Trực đốt cháy tàu Pháp Esperancé.
Những cổ vật mà hậu thế t́m thấy hôm nay xuất phát từ nhiều nguồn: những đồ hư hỏng bị vứt bỏ, đồ quư giá sơ ư rơi xuống nước, đồ từ các tai nạn tàu bè, từ thiên tai, từ chiến tranh… Cán bộ Bảo tàng cho biết do ḍng chảy của các con sông đưa đồ vật dịch chuyển xa nơi ban đầu nên việc xác định niên đại của chúng trở nên phức tạp. Môi trường nước với các điều kiện hóa lư, cơ học cũng tác động rất mạnh, nên cổ vật dưới các ḍng sông đều sứt mẻ và không giữ được vẻ đẹp ban đầu của ḿnh.
Triển lăm Cổ vật từ các ḍng sông Nam bộ được tổ chức nhân kỷ niệm 310 năm khai phá miền đất Nam bộ (1698 – 2008) với sự phối hợp của 8 bảo tàng các tỉnh miền Nam và 12 nhà sưu tập tư nhân.
H́nh ảnh các hiện vật trưng bày tại khu triển lăm, click trên h́nh để phóng lớn.
#gallery-1 { margin: auto; } #gallery-1 .gallery-item { float: left; margin-top: 10px; text-align: center; width: 33%; } #gallery-1 img { border: 2px solid #cfcfcf; } #gallery-1 .gallery-caption { margin-left: 0; }

Ṿng tay TK 19, sông Sa Đéc

Ŕu, sông Đồng Nai, 2000 năm

Gốm trang trí, giữa TK 20, t́m thấy tại sông Sa Đéc

Bộ ấm chén

B́nh, sông Đồng Nai đoạn Tân Uyên

Khóa thắt lưng, sông Vàm Cỏ

Mảnh vỡ tàu L’esperance bị Nguyễn Trung Trực đốt cháy

Hoa tai TK 20, sông Trà Vinh

Tiền Tây Ban Nha TK 18, sông Tiền

B́nh vôi đất nung, TK 17 – 18

Cua đất nung, TK19, sông Vàm Cỏ Đông

Bát chồng dính, TK 18 – 19, Khmer

Hũ, ṿ, sông Đồng Nai và Sài G̣n

Một số loại b́nh, hũ đất nung

Một số loại b́nh, hũ đất nung

Ống nhổ, gốm

Chân đèn cầy Pháp, TK 19, sông Tiền

Ŕu, sông Đồng Nai

Tượng người, TK 12 – 13

Một số loại b́nh, hũ đất nung

Một số loại b́nh, hũ đất nung

Một số loại b́nh, hũ đất nung

Hạt chuỗi t́m thấy dưới sông Tiền

Hạt chuỗi t́m thấy dưới sông Tiền

Tượng địa tạng bồ tát

b́nh, hũ đất nung

Phù điêu đất nung TK 12 – 13

nh́n cổ vật

Tượng Tiêu diện đại sĩ

Bùa đeo, TK 18 – 19, sông Tiền