HCM-Vài tấm ảnh về TT Thích Quảng Đức tự thiêu, ngày 11-06-1963
Anh chị thích sưu tầm liên hệ:
56/36E Tạ Quang Bửu F2Q8 TP HCM
08-350.66.909 / 0903.73.54.00
Ai sống trong thời 1963 và được chứng kiến cảnh tượng bi tráng độc nhất vô nhị này ,đều biết khi Bồ Tát Thích Quang Đức tự thiêu tại ngă tư Phan Đ́nh Phùng – Lê Văn Duyệt ( nay là ngă tư đường Nguyễn Đ́nh Chiểu và Cách Mạng Tháng Tám) toàn thân ngài không tỏ vẻ đau đớn ǵ mà ngài vẫn điềm nhiên trong tư thế ngồi Thiền , sau khi thân xác ngài đă cháy rụi hết , duy chỉ c̣n quả tim là không cháy , người ta lấy quả tim đó đem vô ḷ thiêu lại , dưới sức nóng ..4000 độ (!),cái ḷ thiêu muốn nứt nẻ ra ,vậy mà trái tim của Bồ Tát Thích Quảng Đức vẫn c̣n ..trơ trơ ra đó(!) ,giới báo chí trong nước và nước ngoài có mặt lúc đó thi nhau chụp h́nh , sự kiện này làm chấn động đất Sài G̣n một thời nói riêng và toàn Thế Gíơi nói chung ,điều này làm cho mọi người càng thêm tin tưởng vào sự nhiệm màu của Phật Pháp không phải là hư danh
Ḥa-Thượng Thích-Quảng-Đức đi tu từ thuở nhỏ ở miền Trung. Ngài sống cuộc đời giản dị và hoằng pháp độ sanh bằng phương cách xây dựng nhiều chùa. Trong cuộc đời Ngài đă xây cất tất cả 31 ngôi chùa, gồm 14 chùa ở miền Trung và 17 chùa ở miền Nam.
Chất liệu rọi trên giấy AgFa thời đó , tiếc là không c̣n phim
Trong cuộc tranh đấu Phật Giáo chống chánh sách Kỳ thị Tôn Giáo và gia đ́nh trị của chế độ Ngô-Đ́nh-Diệm vào mùa Phật Đản 1963, là thời kỳ sôi nổi nhứt, Ḥa-Thượng Thích-Quảng-Đức về ngụ tại chùa Ấn-Quang để tiện bề tham gia cuộc tranh đấu.
Ngày 30-5-63, Ḥa-Thượng tham gia cuộc biểu t́nh tại công trường Lam Sơn trước Quốc Hội, tới 5 giờ chiều về chùa Xá-Lợi dự cuộc tuyệt thực. Dịp nầy Ḥa-Thượng Thích-Quảng-Đức tŕnh lên Ủy-Ban Liên-Phái Bảo Vệ Phật-Giáo một bức Tâm thư xin t́nh nguyện tự thiêu. Thư đề ngày 27-5-63. Ủy-Ban Liên-Phái không chấp nhận sự tự thiêu.
Nhưng đến ngày 10-6-63, t́nh h́nh không được sáng sủa, chẳng những vậy mà Phật giáo tại Huế đang bị lâm nguy. Lúc nầy Ḥa-Thượng đang tụng Kinh Pháp-Hoa tại chùa Ấn-Quang. Vào 8 giờ tối 10-6-63, Thương-tọa Thích-Tâm-Châu và Thiện-Hoa đang họp ở chùa Xá-Lợi. Quí vị cho mời Đại Đức Thích-Đức-Nghiệp tới chùa để nhờ Đại Đức chuyển lời hỏi Ḥa-Thượng Quảng-Đức về tâm nguyện tự thiêu nếu Ḥa-Thượng không thay đổi th́ tổ-chức ngay cuộc tự thiêu vào ngày hôm sau.
Ḥa-Thượng Quảng-Đức trả lời Đại Đức Đức-Nghiệp rằng Ngài vẫn quyết tâm hy-sinh cho đạo pháp, tự thiêu để cúng dường Tam Bảo. Trả lời Đại Đức Đức-Nghiệp xong, Ḥa-Thượng b́nh thản như không có chuyện ǵ, lúc ấy là 7 giờ 30 đêm 10-6-1963, Ngài lên chánh điện Chùa Ấn-Quang chủ lễ khóa Tịnh-Độ thường ngày. Buổi lễ cuối cùng ấy có Đại Đức Huệ-Thới đi chuông, Đại Đức Đức-Niệm đi mỏ.
Đại chúng hiện diện đều không ai biết một biến-cố quan trọng sắp xảy ra. Sau khi Phật tử về hết, tại giữa chánh điện, Ḥa-Thượng Quảng-Đức mới tâm sự với hai Đại Đức rằng:
- V́ đạo pháp tôi xin hiến thân giả huyễn nầy để cho Pháp Nạn được giải thoát. Ngày mai nầy tôi sẽ từ giă cơi đời, hẹn gặp hai Thầy ở cảnh giới Cực Lạc của Đức Phật A-Di-Đà. Sau khi tôi tự thiêu để hiến dâng cho Phật Pháp, xin các Thầy lưu ư, v́ tôi không thể trực tiếp nói điều này với các Ngài lănh đạo:
Một là, sau khi thân tôi thiêu thành tro bụi sẽ c̣n lưu lại một vật ǵ đó cho đời, th́ đó là kết quả tốt đẹp về lời Phát nguyện của tôi hiến dâng thân này cho Đạo Pháp và đó cũng là thành quả đời tu hành của tôi.
Hai là, khi tôi thiêu, nếu tôi chết trong tư thế nằm ngửa th́ nguyện vọng Phật-Giáo sẽ thành công, các Thầy cứ tiếp tục tranh-đấu. Ngược lại nếu tôi chết nằm sấp th́ quư Thầy nên t́m cách đi ra các nước Miên, Lào, Thái, v.v… để mà tu, nguyện vọng tranh đấu của Phật-Giáo sẽ không thành.
Ba là, ngày di quan tài của tôi, nếu các Thầy có cảm thấy triệu-chứng ǵ lạ lạ, có thể là ngủ mộng thấy, có thể là cảm giác hay triệu chứng ǵ th́ nên đ́nh chỉ ngay, dời việc di quan qua ngày khác.
Nghĩ lại ba điều Ḥa-Thượng Quảng-Đức nói đêm trước ngày tự thiêu đều hiển ứng:
1. Thân thể Ngài thiêu thành tro, mà quả tim của Ngài vẫn c̣n đỏ hồng như trái xoài chín dưới sức nóng 4.000 độ; nóng đến nỗi ḷ thiêu An-Dưỡng-Địa đă phải nứt nẻ.
2. Khi ngọn lửa thiêu thân vừa lặn tắt, ba lần cuối đầu xá về hướng Tây, liền ngay khi đó, Ngài bật ngửa nằm im trên mặt đất giữa ngă tư đường Phan-Đ́nh-Phùng và Lê-Văn-Duyệt trong tiếng niệm Phật vang dội của hàng trăm chư Tăng Ni đang ngồi vây quanh chấp tay thành kính. Tư thế viên-tịch đúng như Ngài huyền kư lại, làm cho Tăng tín đồ tin tưởng vào sự thành công nguyện vọng b́nh đẳng tôn giáo mà quyết tâm dấn thân hơn. Chung cuộc chánh nghĩa đă thắng.
3. Ai sống trong thời 1963, nếu có lưu tâm đến thời cuộc đều nhớ ngày di quan của Ḥa-Thượng Quảng-Đức ra An-Dưỡng-Địa để thiêu. Theo chương tŕnh là 10 giờ sáng. Dân chúng ở hai bên đường Phan-Thanh-Giản và đường Minh-Mạng lập hương án để tiễn đưa Ngài; nhưng mọi người đợi măi đến hơn 12 giờ trưa mà vẫn chẳng thấy đâu. Sau đó mới nhận được thông báo của Ủy-Ban Liên Phái Bảo Vệ Phật-Giáo cho biết dời ngày di-quan. Dân chúng lúc bấy giờ vô cùng bàng-hoàng kinh ngạc. Khoảng 2 giờ chiều hôm ấy, người ta thấy năm bảy người mặc sắc phục đen lặng lẽ từ dưới bờ ruộng bước lên gở những quả ḿn đă được chôn từ lúc nào trên quăng đường đất dẫn đến ḷ thiêu của An-Dưỡng-Địa.
Sau 3 lần cúi sấp, nhục thân của Bồ-Tát Thích-Quảng-Đức đă bật ngửa ra sau đem đến niềm tin thắng lợi cho cuộc tranh đấu v́ đạo pháp của toàn thể Tăng tín đồ Phật-Giáo.
***
Nói về Ḥa-Thượng Quảng-Đức, người sống rất giản-dị thật b́nh dân. Lúc nào tay cũng lần chuỗi, niệm Phật với gương mặt thản nhiên và miệng luôn luôn như mỉm cười. Những ngày Ngài ở chùa Ấn-Quang để chờ cấp lănh-đạo Phật-Giáo chấp thuận tâm nguyện tự thiêu, Ngài ăn cơm với Tăng chúng, chứ không ngồi ăn cùng bàn với Ban Giám-đốc Phật-Học Đường Nam-Việt Chùa Ấn-Quang, hay các vị lănh đạo Phật-Giáo.
Nói như thế để chúng ta thấy rằng, người mang tâm nguyện Bồ-Tát vào đời hành đạo bao giờ cũng thể hiện đời sống b́nh dị, pháp tu đơn giản của Phật dạy. Pháp tu đơn giản mà chúng tôi muốn nói ở đây chính là Pháp môn niệm Phật. Có lẽ v́ quá đơn giản mà người đời xem thường, từ tâm lư xem thường đưa đến khó tin vào năng lực của Pháp môn niệm Phật, như Kinh A-Di-Đà Phật nói: “Nan tín chi pháp” . Có nghĩa là Pháp môn niệm Phật văng sanh Cực Lạc thật là đơn giản mà hiệu năng th́ vô cùng. V́ vậy mà người đời khó tin!
Tưởng cũng nên nhắc lại, đến đêm 20-8-63, Ngô-Đ́nh-Diệm lại phản bội những ǵ đă kư kết với Phật-Giáo, rồi cho lịnh tấn-công vào các chùa, bắt giam tất cả Tăng Ni toàn quốc, kể cả các vị lănh đạo Ủy Ban Liên Phái Bảo vệ Phật Giáo Việt-Nam tại Chùa Xá-Lợi.
Trong đêm đó cảnh-sát của Diệm Nhu dự định đoạt lấy Trái Tim Xá-Lợi, nhưng một Thiếu Tá cảnh-sát đă nhanh tay cất giấu Trái Tim Xá-Lợi ấy, toán Cảnh Sát quưnh quáng t́m kiếm mà không ra. Sau khi t́nh h́nh yên ổn vị Thiếu Tá ấy – là một Phật tử – đem hoàn lại vật thiêng cho quư vị lănh đạo Phật-Giáo tại chùa Xá-Lợi.
Ông Lê Trường Quỳnh - Ảnh: Minh TựTTCT - Ông Lê Trường Quỳnh, một lăo phu ở làng Lựu Bảo (xă Hương Hồ, huyện Hương Trà, Thừa Thiên - Huế), đang lưu giữ một bộ sưu tập độc đáo: truyền đơn của Việt Minh với đủ chủng loại và số lượng lớn. Các nhà chuyên môn về bảo tàng ở Huế và Quảng Nam đều đánh giá bộ sưu tập truyền đơn này rất lạ và hiếm. Lạ bởi hầu như chẳng mấy người sưu tập truyền đơn, hiếm v́ dưới chế độ cũ hễ ai nhặt được loại ấn phẩm này phải bí mật đọc rồi hủy ngay, giữ lại hết sức nguy hiểm.
Mặt khác, các cơ quan phát hành loại văn bản này thường cũng không lưu trữ. Số truyền đơn này ra đời trong thời kỳ 1945-1954, thường được gọi là “thời chín năm”, khi đó quân Pháp tái chiếm và lập ra chính phủ bù nh́n ở Trung phần. Khi xem những tờ truyền đơn ố vàng, cũ kỹ, lấm lem bùn đất, được in bằng đủ loại giấy thô sơ, nhiều người hẳn sẽ thắc mắc: v́ sao ông Quỳnh có thể lưu giữ với số lượng lớn như thế những tờ truyền đơn được Việt Minh rải xuống vùng chiến sự từ hơn 50 năm trước?
Ông Quỳnh cười, giải thích: “Thật ra tôi nhặt được từ trong đống giấy vụn người ta bỏ đi đó mà”. Số là năm 1976, bà Trúc vợ ông Quỳnh bán tạp hóa ở chợ Đông Ba, một hôm các chị đồng nát đến bán cho bà một mớ giấy cũ để gói hàng. Bà Trúc định xén nhỏ số giấy để gói bột ngọt th́ t́nh cờ phát hiện những nội dung “hơi lạ” của chúng nên giữ lại đem về đưa cho chồng, lúc đó ông Quỳnh là cán bộ Pḥng văn hóa - thông tin TP Huế. Đọc xong, ông Quỳnh biết ngay đây là truyền đơn binh vận được Việt Minh rải ở các vùng có quân Pháp chiếm đóng.
Sau đó, số truyền đơn này được ty thông tin các tỉnh gửi về cho Nha Thông tin Trung phần (thuộc chính phủ bù nh́n) đóng tại Huế để làm tài liệu nhằm đối phó “đ̣n” binh vận của Việt Minh. Ông Quỳnh xác định được nguồn gốc của tài liệu bởi kèm theo truyền đơn là các phiếu chuyển đóng dấu “mật” của các ty thông tin gửi Nha Thông tin Trung phần (đóng ở ṭa nhà phía bắc cầu Trường Tiền, sau này được phá dỡ để xây nhà sách Phú Xuân). Truyền đơn được lưu trữ ở đây cho đến sau năm 1975, rồi được coi là giấy tạp không có giá trị nên đem vứt bỏ.
Ông Đỗ Hữu Hà, phó giám đốc Bảo tàng Lịch sử - cách mạng Thừa Thiên - Huế, nhận định: “Một bộ truyền đơn với số lượng lớn như vậy là rất hiếm, ngay bảo tàng chúng tôi cũng chỉ lưu giữ được vài tờ.
Nguồn thông tin trong các tờ truyền đơn rất đặc sắc, đồng thời lại là nguyên bản. Đây là một tài liệu có giá trị lịch sử, rất cần cho bảo tàng lịch sử cách mạng các địa phương, các bảo tàng quân đội”. Qua điện thoại, ông Trần Tấn Vịnh, giám đốc Bảo tàng Quảng Nam, cũng mong muốn được tiếp cận hiện vật và cho biết sẽ cử cán bộ bảo tàng đi Huế ngay.
Có hơn 50 chủng loại truyền đơn in trên đủ thứ chất liệu: giấy bổi, giấy báo, giấy b́a, giấy pơluya, giấy quấn thuốc lá và cả giấy vàng mă... Có loại in typo, có loại in roneo chữ bé li ti, lại có loại viết tay nguệch ngoạc nét chữ to tướng. Khổ giấy có loại A4, có loại chỉ bằng gói thuốc lá. Có tờ toàn chữ, có tờ vẽ thêm h́nh ảnh như tranh cổ động...
Theo ông Quỳnh, số truyền đơn này là của Việt Minh các tỉnh Quảng B́nh, Quảng Trị, Thừa Thiên, Quảng Nam - Đà Nẵng, Khánh Ḥa, những địa phương bị quân Pháp chiếm đóng. Không thấy của hai tỉnh Quảng Ngăi và Phú Yên, có lẽ do đây là vùng Việt Minh kiểm soát. Phần lớn là truyền đơn binh vận của bộ đội VN gửi đến đối tượng người Việt đi lính cho Pháp (lính thân binh, Việt binh đoàn, bảo vệ quân) kêu gọi quay súng chống giặc ngoại xâm.
Khá nhiều là truyền đơn của liên đoàn thanh niên các tỉnh kêu gọi “anh em thanh niên và nông dân bị giặc bắt lính... hăy t́m mọi cách để thoát khỏi đồn trại, hàng ngũ giặc”. Có truyền đơn của ty thông tin các tỉnh thông báo về thất bại của quân đội Pháp.
Có truyền đơn của chính một nhóm bảo vệ quân ở Thừa Thiên sau khi quay súng trở về đă tâm sự với bạn bè c̣n trong hàng ngũ giặc. Có cả lời hiệu triệu của Trung ương Liên Việt và Tổng bộ Việt Minh hay tài liệu chuyền tay, thư chúc tết, các bài báo nước ngoài. Có lệnh truy tầm cán bộ chiêu hồi hoặc thư bằng tiếng Pháp gửi lính viễn chinh... “Đủ cho một đề tài khóa luận tốt nghiệp cử nhân ngành lịch sử. Từ ngữ, giọng điệu thể hiện của mỗi loại truyền đơn cũng khác nhau, rất sinh động và thú vị” - ông Quỳnh nói.
Suốt 30 năm qua, mỗi mùa lũ lụt ông Quỳnh lại cẩn thận gói ghém và cất bộ sưu tập truyền đơn lên chỗ cao ráo. Nguyện vọng của ông Quỳnh là số truyền đơn ấy sẽ được cơ quan có trách nhiệm xác minh giá trị và trưng bày ở nơi thích hợp để nhiều người cùng xem.